Phương Nam Co LTD
© 21/9/2017 - Vietnam12h.com Application

Các chất xúc tác sinh học và tác nhân chống tái bám

Các enzyme đã trở thành một trong những thành phần chính thêm vào công thức tẩy rửa khoảng nửa thập kỷ gần đây, với những lý do sau:

            Sự phát triển của các loại bột đậm đặc và lỏng: lượng enzyme được đưa vào đơn công nghệ ở tỷ suất thấp nhưng đem lại hiệu quả cao.

Các thói quen của người tiêu dùng đã thay đổi. Trước kia, người ta giặt quần áo

chỉ để làm sạch. Ngày nay, người ta còn quan tâm đến việc giữ “mới” trong thời gian càng lâu càng tốt, do đó, sự có mặt của enzyme được đáng giá cao.

            Tính không gây hại của enzyme đối với môi trường.

Các enzyme là những hợp chất rất phức tạp chứa nitơ của các loại protein làm xúc tác cho các phản ứng khác nhau trong hóa học vi sinh. Một số phản ứng  xảy ra trong các cơ thể sống hữu cơ, nhưng một số khác xảy ra trong các hệ “không sống” ( non- living) như tinh bột chuyển hóa thành đường trong công nghiệp sản xuất thức uống có cồn. Từ những năm 60, người ta đã rất quan tâm đến các loại enzyme dùng trong bột giặt như:

            Protease: thủy phân các vết bẩn có nguồn gốc protein.

            Lipase:  tác  động lên các vết dầu mỡ, thủy phân các glycerit không hòa tan.

            Amylase:  thủy phân các vết bẩn tinh bột.

            Cellulase:  thủy phân các vết bẩn có nguồn gốc cellulose.

Các enzyme cần có một khoảng thời gian để hoạt động và chỉ có thể hoạt động ở nhiệt độ dưới 55oC, ở nhiệt độ cao hơn, chúng sẽ bị phân hủy. Trong các loại enzyme trên thì protease được chú ý nhiều nhất.

Bảng 2.7: Những chỉ dẫn về các loại enzyme theo pH và nhiệt độ 

Enzyme

pH

Nhiệt độ (oC) 

Protease:

   Alcalaza

   Savinaza

   Everlaza

   Esperaza

 

7-9.5

9-10.5

9-10.5

10-11.5

 

 10-65

10-65

10-65

40-75

Amylaza:

Termamyl

            Ban

 

8-11.5

7-9.5

 

10-90

10-40

Lipaza:

            Lipolase

 

7-11

 

5-45

Cellulaza:

            Celluzym

            Carezym

 

7-9.5

7-10.5

 

20-70

20-55

Các tác nhân chống tái bám

Chất chống tái bám thường được sử dụng nhiều nhất là cacboxymetyl xenluloza natri có công thức phân tử : [C6H7O2(OH)2OC2COONa].

CMC Na làm gia tăng các tính chất chống tái bám bằng hai cách:

- Làm biến đổi điện tích của những hạt bẩn lơ lửng bằng sự hấp phụ ở giao diện rắn lỏng.

- Biến đổi những đặc tính điện lập thể của bề mặt các sợi bằng sự hấp phụ trên vải.

Tuy nhiên CMC Na chỉ có hiệu quả với quần áo bằng bông, còn với các loại vải vóc bằng các chất liệu khác người ta thường sử dụng thêm những loại polime chống tái bám khác như polyme của axit acrylic hoặc axit acrylic/maleic.

- Lượng CMC Na thường dùng với hàm lượng từ 0,5 - 1% trong công thức.

- Đối với các polyme của axit acrylic hoặc axit acrylic/maleic có ba trường hợp:

+ Nếu bột giặt chứa đủ STPP và sự phân giải của nó kém (10 - 12%) thì không cần thiết sử dụng những polime. Ngược lại, nếu sự phân giải của STPP quan trọng thì cần có từ 0,3 đến 0,5% polime để tránh sự tái bám và bám dính.

+ Khi người ta muốn giảm tỉ suất STPP vì những lý do môi trường và khi sự phân giải của nó cao, người ta có thể dùng từ 1 - 2% polime.

 

+ Với những công thức không có photphat, có nhựa trao đổi ion hoặc tác nhân kết tủa, hàm lượng polime có thể từ 3 - 4% và có thể hơn đối với bột giặt đậm đặc.


Link Đọc file PDF hoặc tải file pdf về máy tính
TKH