Phương Nam Co LTD
© 29/7/2021 - Vietnam12h.com Application

Polyethylene glycol PEG giảm độc tính Dendrimer PAMAM

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã không ngừng nghiên cứu để tìm ra những vật liệu mới nhằm phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống. Công nghệ nano ra đời đã đáp ứng được nhu cầu cấp thiết này. Trong những năm gần đây, các nanopolymer được tập trung nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực y dược. Dendrimer là một trong những nanopolymer tương hợp sinh học (Polyethylene glycol PEG  và Pluronic) được nghiên cứu nhiều nhất bởi cấu trúc hình cầu có nhiều khoảng trống bên trong có thể được ứng dụng làm chất mang thuốc, protein và phân phối gen.

Ngày càng có nhiều loại thuốc đang được sử dụng phải đối mặt với các vấn đề về độ hòa tan, tác dụng sinh học, độ hấp thụ kém và thời gian tồn trữ ngắn. Ngoài ra, các thuốc đặc trị có rất nhiều tác dụng phụ. Đặc biệt thuốc chống ung thư không những gây độc với tế bào ung thư mà còn gây độc đối với cả các tế bào lành.

Nhiều báo cáo khoa học chỉ ra rằng việc đóng gói các loại thuốc điều trị ung thư vào các hệ chất mang polymer hay nanopolymer đã nâng cao đáng kể độ tan trong nước và độ ổn định lưu trữ thuốc, giúp tăng cường hoạt động chống khối u và giảm tác dụng phụ của thuốc. Dendrimer PAMAM là một trong những chất mang nanopolymer có thể làm việc như một công cụ hữu ích cho việc phân phối các loại thuốc, cũng như liệu pháp gen và hóa trị.

Tuy nhiên, có một nhược điểm của dendrimer PAMAM là gây ra độc tính trong máu và ly giải tế bào do tương tác mạnh mẽ của các nhóm -NH2 ở trên bề mặt PAMAM với màng tế bào, dẫn đến sự phá vỡ màng tế bào, đồng nghĩa là diệt tế bào.

Để giải quyết vấn đề này, các nhóm -NH2 trên bề mặt dendrimer PAMAM được biến tính bằng các polymer tương hợp sinh học, làm triệt tiêu điện tích dương của các nhóm amine trên hoặc ngăn chặn sự tiếp xúc giữa các nhóm -NH2 với màng tế bào giúp giảm độc tính, tạo ra khả năng tương tác sinh học cao của chất mang, từ đó nâng cao hiệu quả mang thuốc và điều trị. Ngoài ra việc biến tính bề mặt PAMAM cũng có thể làm tăng khả năng mang thuốc của PAMAM

Trên cơ sở đó “Nghiên cứu biến tính dendrimer polyamidoamine bằng polymer tương hợp sinh học (Polyethylene glycol PEG  và Pluronic) ứng dụng mang thuốc”.

Nghiên cứu tổng hợp chất mang thuốc trên cơ sở biến tính dendrimer PAMAM bằng polymer tương hợp sinh học (Pluronic, Polyethylene glycol), với mục tiêu làm giảm độc tính của PAMAM (tăng tính tương hợp sinh học) và tăng khả năng mang thuốc của PAMAM.

Các hóa chất tương tác làm giảm độc tố dendrimer PAMAM bao gồm:

Tổng hợp c đến thế hệ G5.0 từ tâm ethylenediamine (EDA).

Nghiên cứu biến tính 4 thế hệ dendrimer PAMAM G2.0, G3.0, G4.0, G5.0 bằng các Polyethylene glycol 4000 (Polyethylene glycol PEG 4K), Polyethylene glycol 6000 (PEG6K), Polyethylene glycol 10000 (PEG10K), Polyethylene glycol 12000 (PEG12K).

Nghiên cứu biến tính 4 thế hệ dendrimer PAMAM G2.0, G3.0, G4.0, G5.0 bằng các Pluronic P123, Pluronic F68, Pluronic F127 và Pluronic F108.

Nghiên cứu tổng hợp dendrimer PAMAM G4.0-F127 với các tỷ lệ mol PAMAM/F127 khác nhau.

Nghiên cứu hiệu quả nang hóa thuốc chống ung thư 5-Fluorouracil (5-FU) của các chất mang nano PAMAM-Polyethylene glycol PEG  và PAMAM-Pluronic.

Khảo sát tốc độ giải phóng thuốc 5-Fluorouracil của hệ dendrimer PAMAM G4.0-Polyethylene glycol PEG 6K/5-FU trong in vitro với môi trường đệm PBS (pH=7.4).

Khảo sát tốc độ giải phóng thuốc 5-Fluorouracil của hệ dendrimer PAMAM G4.0-P123/5-FU và PAMAM G4.0-F127/5-FU trong in vitro với môi trường đệm PBS (pH=7.4).

Nghiên cứu độc tính tế bào ung thư vú MCF-7 và nguyên bào sợi (Fibroblast) đối với các hệ chất mang nano dendrimer PAMAM, PAMAM-Polyethylene glycol PEG, PAMAM-Pluronic, PAMAM-Polyethylene glycol PEG/5-FU và PAMAM-Pluronic/5FU.