Phương Nam Co LTD
Thi công xây dựng phần thô
© 19/1/2018 - Vietnam12h.com Application
 Quy hoạch đô thị hiện đại thời kỳđầu sau chiến tranh thế giới thứ II

                 Cuộc chiến tranh thế giới thứ II kết thúc với sự tổn thất nặng nề về mọi mặt trong đó có đô thị, việc tái thiết các thành phố lớn trở nên cần thiết. Các nước TBCN phương Tây thời hậu chiến đã chú ý đến vấn đề xây dựng các tiểu khu nhà ở, muốn tăng độ lớn của các đơn vị quy hoạch để thuận lợi cho việc bố trí dịch vụvà cây xanh. Trong lãnh vực giao thông, xu hướng chung là tiến tới phân công chức năng cho các loại đường, bố trí hệ thống đường đi bộở một số khu vực đô thịvà tách hệ thống này khỏi những tuyến đường ô tô cao tốc, mở rộng chiều rộng đường, giảm bớt số ngã tư, xây dựng những xa lộ cao tốc.

                Hoạt động xây dựng Brasilia.

                -Năm 1956, chính phủ Brasil tổ chức cuộc thi phương án quy hoạch cho thành phố thủđô mới của đất nước này-thành phố Brasilia. Phương án đoạt giải nhất của Lucio Costa có cách tổ chức không gian cho Brasilia độc đáo khác thường. Thành phố dự kiến cho 50 vạn dân này có hình dáng một chiếc máy bay, hai cánh lớn bố trí các khu ở, thân máy bay là trục chính của thành phố trên đó bốtrí nhiều công trình công cộng quan trọng, ởđỉnh bố trí quảng trường Tam quyền hình tam giác trên đó đặt những công trình lớn đầu não của Nhà nước, phần đuôi hình máy bay đặt nhà ga xe lửa và các xí nghiệp thủ công nghiệp.

                -Năm 1958, thành phốđược khởi công và chỉ mấy năm sau đã hoàn thành về cơ bản. Trục chính (thân máy bay) dài 6 km, trục phụ hình vòng cung (hai cánh) dài 13 km. Nơi hai trục cắt nhau bố trí các công trình thương nghiệp, văn hoá giải trí v.v..., từđây đi theo trục chính về phía Đông (đến đỉnh của máy bay) là 12 toà nhà lớn dành cho các bộ, tiếp đến là quảng trường Tam quyền trên đặt nhà Quốc hội Brasil và hai toà nhà Ban thư kí, nhà làm việc của Tổng thống và Toà án tối cao. Hai khu vực nhà ở lớn hai bên trục chính được tổ chức theo kiểu "siêu phường". Việc phân cấp các tuyến đường giao thông rất rõ ràng, xe ô tô không chạy vào các khu vực ở, đường sá giao cắt nhau lập thể. Đường xe lửa chạy qua nhà ga ở phía "đuôi máy bay" không cắt qua thành phố. Cây xanh được bố trí men theo hai khu ở, các khu biệt thự bố trí gần hồ nước.

                Hoạt động xây dựng đô thị của Le Corbusier ở Pháp và Ấn Độ.

                -Đơn vị nhà ở lớn Marsailles (xây dựng 1947-1952), dài 165 mét, cao 56 mét, rộng 24 mét do Le Corbusier thiết kế thực sựđã là một thành phố, hay một thịtrấn. Ngoài chức năng ở các phương tiện dịch vụ công cộng, văn hoá giáo dục, thểthao cũng được bố trí hợp khối vào trong toà nhà đồ sộ này. Toàn bộ nhà có 17 tầng, dưới để trồng cây xanh ăn lan vào và để làm gara ô tô. Ở tầng 7 và tầng 8, được đặt các dịch vụ phục vụ cấp I, tầng trên cùng có nhà trẻ, mẫu giáo, trên mái có vườn hoa, sân chơi, đường chạy, chỗăn uống ngoài trời, 15 tầng ở gồm 337 căn hộở với các kiểu từ căn hộđộc thân đến hộ 10 người, chứa được 1600 người.

                -Việc thực hiện quy hoạch thành phố Chandigarh, thủ phủ bang Panjab ởẤn Độ của Le Corbusier một sự kiện lớn khác trong hoạt động xây dựng đô thị thếkỷ XX. Thành phố nằm dưới chân dãy Hymalaya, với 50 vạn dân dự kiến, đã được thiết kế dựa trên những nguyên tắc sau đây:

                + Phân vùng công năng rõ rệt.

                + Phân loại đường giao thông hợp lý và tỷ mỉ.

                + Chú ý mối liên hệ giữa các khu vực ở-lao động-nghỉ ngơi và tôn trọng những giá trị sẵn có của thiên nhiên, những yếu tốđặc thù của khí hậu.

                + Chú ý tác dụng xã hội quan trọng của đô thị, kiến trúc và đề cao tính chất nhân văn của một đô thị kiểu mới.

                Quá trình đô thị hoá ở Nhật Bản.

                -Đặc điểm nổi bật nhất ở Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ II là sự phát triển mạnh mẽ của nền văn minh công nghiệp đã dẫn đến sự hình thành các khu vực công nghiệp lớn-liên đô thị. Trong khi dó, lí luận đô thị thay một cách chóng mặt từ những khái niệm về hiện đại, hậu hiện đại, hiện đại mới... Trong bối cảnh đó, các kiến trúc sư Nhật Bản đã đưa ra nhiều đồ án quy hoạch dựa trên niềm tin sâu sắc về sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật.

                - Kenzo Tange trong đồ án Tokyo 60, phát triển thành phố mới Tokyo trên biển, đã đề

                nghị "một cuộc cải tổ về cơ cấu làm cho hình dáng hướng tâm và khép kín của thành phố trở thành một cơ cấu tuyến tính, mở và có thể kéo dài". Tokyo 60 là một thành phố tuyến vượt ngang qua mặt vịnh, hình thành bởi những mắt xích nọ nối tiếp mắt xích kia đặt ngang trên một hệ thống cột bê tông, từ tuyến mắt xích này toả ra các đường ngang, trên đó đặt các quần thểở. Ở khu vực giữa mắt xích hình chữ nhật là những tuyến đường cao tốc khác mức cao và những nhà làm việc treo trên những khối hộp bê tông thẳng đứng làm nhiệm vụ giá đỡ và giao thông thẳng đứng. Bên dưới là những chỗđể ô tô, không gian cây xanh. Các quần thể là những khối nhà cao tầng có dạng mái dốc gợi lên hình ảnh kiến trúc Nhật truyền thống.

                Quy hoạch đô thị hiện đại ở Anh.

                -Nước Anh sau đạichiến thế giới thứ II có hoạt động xây dựng đô thị mạnh mẽđể lại nhiều kinh nghiệm và những giá trị mới cho nền văn hoá xây dựng đô thị I. Thành tựu đáng chú ý nhất ở Anh là trong hơn ba thập kỷđầu tiên sau chiến tranh, nước Anh đã xây dựng được hơn 35 đô thị mới với ba thế hệ khác nhau.

                -Thế hệđô thịđầu tiên, được xây dựng trong khoảng thời gian những năm 1946-1950, bao gồm 14 thành phố mới, trong đó có nhiều thành phố quan trọng như Harlow, Stevenage... Các đô thị thuộc thế hệ thứ nhất thường có sơđồ tập trung, tán xạ, ở giữa đặt một trung tâm công cộng quan trọng. Các thành phố này đã thực sự trở thành những trung tâm tự trị quan trọng, sau đó còn thu hút cả dân số quanh vùng trong một phạm vi 20 km. Ở thành phố này đã có sự phân chia các khu ở thành các đơn vị láng giềng, giao thông xe hơi đi lại thuận tiện ở vành ngoài trung tâm, đã bố trí rất nhiều bãi đỗ ô tô và trung tâm công cộng với nhiều cửa hàng chuyên môn hoá, các công trình văn hoá, hành chính đã có sức thu hút rất mạnh.

                -Thế hệđô thị thứ hai, ra đời từ những năm 1950-1961, trong đó có Cumbernauld và Hook là những thành phố rất nổi tiếng. Quy hoạch thế hệđô thịthứ hai tiêu biểu cho một xu hướng mới sau khi có sự phê phán các đô thị thuộc thế hệ thứ nhất. Cumbernauld đã không có các đơn vị cơ sở nhỏ là tiểu khu mà tất cả các vùng ởđược đặt vây quanh khu trung tâm. Sự liên hệ nhà ở-trung tâm chỉmất 20 phút đi bộ, được thực hiện bằng một hệ thống đường đi dạo và đường đi bộtrên cao, tách khỏi đường ô tô bên dưới là một ưu điểm đáng tham khảo, kiểu tổchức giao thông này đã làm giảm hẳn một cách đáng kể các tai nạn giao thông Việc tổ chức giao thông nhiều tầng và tập trung các chức năng cần thiết vào một điểm tụ lớn của khu trung tâm đã đưa đến các tiện lợi đáng kể.

                -Thế hệđô thị thứ ba, ra đời sau 1961, bao gồm 13 thành phố, trong đó có những thành phố trở thành trung tâm kinh tế của vùng như Irvine, Livingston… và có những thành phố trở thành các đô thị vệ tinh làm cân bằng dân sốđô thị vùng đô thị London như Peterborough, Northamton... Thế hệđô thị thứ ba sau chiến tranh của Anh đã rút được những kinh nghiệm từ hai thế hệđô thị trước, những đô thị này đã ra đời dựa trên những nghiên cứu về xã hội học, chú ý tạo khả năng thích ứng với khung cảnh đô thị mới cho người ở, sử dụng cấu trúc hạt nhân cho các khu ở mà không sử dụng kiểu tổ chức tầng bậc theo tiểu khu cứng nhắc. Tổchức cấu trúc hạt nhân là tổ chức dùng các đơn vịở nhỏ kết hợp với việc tạo thành các đơn vị lớn hơn có trình tự trong quy hoạch như sau: - Đơn vị nhỏ: 20-30 nhà ởtạo thành môi trường xã hội cơ sở hay "đơn vị liên kết xã hội mạnh". -Nhóm ở: gồm 200-400 nhà ở có các cửa hàng và trường tiểu học kèm theo. - Quần thểở hay là "đơn vị cộng đồng xã hội", với một trung tâm công cộng đầy đủ, đặt cách xa không quá 5 phút đi bộ. -Khu nhà ở 25 000-30 000 dân với sơđồđa tâm.

                Quy hoạch đô thị Hiện đại ở Pháp.

                -Xây dựng đô thị hiện đại ở Pháp từ sau chiến tranh thế giới thứ II có thểquy tụ lại ở một số những hoạt động chính thể hiện ở việc quy hoạch - xây dựng vùng đô thị Paris và xây dựng một sốđô thị mới như khu Défense.

                -Một đầu của Défense gắn với hai tuyến giao thông có cường độ giao thông thuộc loại cao nhất Paris đã được áp dụng một trong những biện pháp xây dựng độc đáo: toàn bộ mặt đất được phủ bởi những bản beton cốt thép lớn, bên dưới là các tuyến đường giao thông, các chỗđỗ ô tô và đường ống kỹ thuật chạy ngầm, bên trên là một hệ thống các nhà tháp cao. Hệ thống đường ngầm bên dưới bản phẳng có nhiều độ sâu với cốt cao khác nhau: ởđộ sâu thứ nhất đặt các tuyến đường ô tô buýt, chỗđỗ xe con, ởđộ sâu thứ hai và thứ ba đặt các tuyến đường ô tô, chỗđỗ xe con, hệ thống đường ống kỹ thuật, ởđộ sâu thứ tưđặt các tuyến đường ô tô buýt. Phía trên mặt đất, hàng loạt các nhà cao tầng đã mọc lên là trụ sởcủa nhiều hãng và công ty lớn. Khu vực nhà ở có số tầng thấp hơn với một trung tâm thương nghiệp và nhiều dịch vụ công cộng khác.

                -Việc lớn lên không ngừng của thủđô nước Pháp đã buộc phải thiết lập một dự án phát triển dài lâu cho vùng đô thị Paris. Đó là một dự án phát triển kiểu tuyến tính, tạo thành bởi hai dải song song chạy bên ngoài nội thành Paris từhướng Đông Nam lên phía Tây Bắc, dự kiến kéo dài mãi đến tận thành phố cảng Havre. Cấu trúc của đồ án này cho phép vùng đô thị Paris phát triển một cách hài hoà khi đã dự kiến một mạng lưới thành phố cũ và mới phát triển theo kiểu tuyến tính mà hạn chế kiểu phát triển hướng tâm. Quần thểđô thị này có diện tích 12000 km² có các thành phần cấu thành sau đây:

                + Nội thành Paris và các khu vực đô thị lân cận Défense, Versailles, Créteil…

                + Một trục kép lớn gồm hai mũi tên chạy song song phía trên và dưới nội thành Paris xác định hướng phát triển chính cho vùng đô thị Paris. Trục phía trên sẽ liên kết các thành phần đô thị Bobigny, Saint Denis, Cergy Pontoise… thành một trục đô thị thống nhất. Trục phía dưới liên kết các thành phần đô thị sẽliên kết các đô thị Melun, Évry, Mantes… thành một trục đô thị thống nhất