Phương Nam Co LTD
Tin thế giới, kinh tế, chính trị, pháp luật, giáo dục, khoa học hàng ngày
© 23/7/2017 - Vietnam12h.com Application

Phối trộn chế tạo và các thông số hoá lý chất tẩy rửa


Phối trộn chế tạo chất tẩy rửa

Chế tạo CTR dạng nguyên chất

Sau khi đã tổng hợp được dầu thông biến tính sunfat hóa, chúng tôi đã dùng nguyên liệu đó để chế tạo chất tẩy rửa bằng cách pha với các thành phần khác và khảo sát sự ảnh hưởng của các hợp chất đó đến khả năng tẩy rửa của dung dịch.

Thành phần để pha chế chất tẩy rửa gồm có:

Chất hoạt động bề mặt: Dầu thông sunfat hóa, LAS.

Chất xây dựng: Axit oleic.

Kiềm hữu cơ TEA.

Phụ gia tẩy trắng: H2O2 (có thể pha trộn ngay hoặc để thực hiện riêng quá trình tẩy trắng)

Phụ gia làm mềm vải: Glyxerin.

Cân chính xác thành phần các chất theo tỉ lệ đã định trước. Đầu tiên cho dầu thông biến tính vào cốc 100 ml, sau đó cho LAS và axit oleic vào khuấy trộn để hoà tan trong dầu thông biến tính. Tiếp theo cho phụ gia tẩy trắng và làm mềm vải. Cuối cùng cho kiềm hữu cơ TEA vào để trung hòa

tạo môi trường trung tính. Tiến hành khuấy trộn ở tốc độ vừa phải và gia nhiệt trong khoảng nhiệt độ từ 30 - 50oC cho đến khi dung dịch đồng nhất (thường khoảng 5-10 phút) thì ngừng khuấy trộn và gia nhiệt. Để nguội tự nhiên rồi cho mẫu vào các bình tam giác có nút nhám.

Công thức pha chế chất tẩy rửa được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát ảnh hưởng của từng thành phần đến hoạt tính của chất tẩy rửa bằng cách thay đổi một thành phần trong công thức pha chế còn các thành phần khác giữ cố định. Tiến hành khảo sát như vậy với tất cả các thành phần để thu được công thức pha chế tối ưu /9,111,112/.

Chế tạo CTR dạng nhũ tương trong nước

Để nâng cao hiệu quả tẩy rửa và sự thuật tiện khi sử dụng CTR, đã pha chế CTR dạng nhũ tương. Dạng này có hoạt tính cao do đã được nhũ hóa với nồng độ thích hợp.

Cân CTR với thành phần như trên cho vào thiết bị khuấy trộn có tốc độ khuấy cao. Cho từ từ lượng nước đã định trước theo nồng độ yêu cầu, tiếp đó là phụ gia làm bền nhũ. Tiến hành khuấy trộn trong vòng 40 phút. Sản phẩm nhũ tương có mầu trắng đục, có thể bảo quản trong 3 tháng.

Xác định các thông số hoá lý của sản phẩm

Đánh giá khả năng tẩy rửa

Để đánh giá khả năng tẩy rửa có rất nhiều phương pháp: đo sức căng bề mặt, phương pháp đo độ trắng của vải, đo độ nhả bẩn, phương pháp đo trọng lượng…

Tuy nhiên, do lượng cặn dầu bám trên vải sợi rất nhỏ nên không thể dùng phương pháp đo trọng lượng để xác định độ tẩy rửa. Sau khi nghiên cứu chúng tôi nhận thấy phương pháp xác định khả năng tẩy sạch hiệu quả nhất của chất tẩy rửa dùng cho vải sợi là phương pháp đo độ trắng của vải.

Tạo mẫu thử

Mẫu vải cắt ra với kích thước nhất định: dài 5 cm, rộng 5 cm. Cho dầu bám trên các mẫu vải hoàn toàn giống nhau bằng phương pháp ngâm mẫu vải trong dầu rồi phơi khô.

Ngâm mẫu để xác định khả năng tẩy rửa.

Cho mẫu vải cần tẩy vào trong các cốc đựng dầu thông biến tính và dung dịch chất tẩy rửa. Tiến hành ngâm mẫu trong điều kiện nhiệt độ khác nhau, thời gian ngâm mẫu cũng khác nhau.

Sau đó lấy mẫu vải ra, rửa lại một lần bằng nước sạch. Đem mẫu vải vừa tẩy đi phơi khô và cho vào túi đựng mẫu để đem đi đo độ trắng.

Đo độ trắng của vải

Đo tại: Viện Kinh tế Kỹ thuật Dệt may

Tiêu chuẩn đo độ trắng : ISO105J02

Máy đo : Gretag Macbeth hoặc ColorEye 2180 UV

Nguyên lí của phép đo : Phép đo dựa trên cơ sở sử dụng quả cầu tích phân. ánh sáng chiếu thẳng vào mẫu và tán xạ vào quả cầu tích phân. Phần ánh sáng từ quả cầu tích phân sẽ được chiếu thẳng tới tế bào quang điện. Tại đó, máy sẽ tự động đo cường độ ánh sáng đã được chuyển thành tín hiệu điện, tương ứng với các bước sóng từ 380-700 nm. Phụ thuộc vào mức độ phản xạ khác nhau của các bước sóng khác nhau mà xây dựng được đường cong phản xạ của ánh sáng theo bước sóng. Tương ứng với các vị trí trên đường cong, khi tổ hợp lại sẽ xác định được màu.

Xác định một số thông số hoá lý

Để đảm bảo độ an toàn trong quá trình thí nghiệm và quá trình bảo quản chất hoạt động bề mặt và chất tẩy rửa, đồng thời nghiên cứu cơ chế hoạt động của CTR, cần phải kiểm tra một số thông số hoá lý của sản phẩm như: độ bay hơi, tỷ trọng, độ nhớt, sức căng bề mặt, nồng độ mixen tới hạn, điện thế zeta…

Xác định độ bay hơi.

Dụng cụ

Cốc 80 ml. Cân phân tích. Đồng hồ đo giờ.

Cách tiến hành

-Dùng cốc thuỷ tinh 80 ml có kích thước giống nhau và cân chính xác lượng dung dịch cần đo (trong cùng một điều kiện) có khối lượng g1.

-Để dung dịch cần đo bay hơi tự nhiên trong 24h, 48h… tại bề mặt thoáng.

Sau đó đem cân chính xác khối lượng dung dịch còn lại g2.

-% Độ bay hơi V được xác định bằng công thức sau:

%V = (g1 − g2)/g1 .100%

Xác định tỷ trọng

Nguyên tắc xác định.

Xác định theo phương pháp đo bằng tỷ trọng kế. Phương pháp này dựa trên cơ sở so sánh khối lượng của một thể tích xác định mẫu dầu với khối lượng của cùng một thể tích nước ở cùng nhiệt độ.

Dụng cụ.

Dụng cụ đo được minh hoạ trên hình 2.1, bao gồm: - Bình tỷ trọng

Dụng cụ ổn định nhiệt : Cốc chứa nước được giữ ở nhiệt độ không đổi bằng cách thêm đá hoặc nước nóng, khuấy đều liên tục để ổn định nhiệt ở 20oC.

Nhiệt kế thuỷ ngân loại 0-30oC có vạch chia 0,1oC/vạch.

Pipet loại 1-5ml.                -Cân phân tích.

Cách tiến hành.

Rửa sạch bình tỷ trọng bằng hỗn hợp sunfocromic.

Tráng bình bằng rượu etylic, sau đó bằng nước cất.

Sấy khô để nguội, rồi cân trên cân phân tích.

Sấy, để nguội, cân lặp lại cho đến khi trọng lượng không đổi (m1).

Cho nước cất mới cất vào bình rồi giữ ở thùng điều nhiệt ở 15 ÷ 0,1oC

hay 20 ÷0,1oC tuỳ từng trường hợp trong 30 phút.

Loại nước dư bằng ống hút hoặc giấy lọc. Lau cẩn thận bên ngoài bình.

Cân lên lấy khối lượng nước và bình (m2).

Rửa sạch và sấy khô bình tỷ trọng.

Cho sản phẩm cần đo vào bình tỷ trọng rồi cân lấy trọng lượng của bình và sản phẩm (m3). Đo và ghi lại nhiệt độ của sản phẩm khi cân.

Tỷ trọng sản phẩm được xác định bằng công thức:

d = (m3 − m1)/(m2 − m1)

Đo sức căng bề mặt

Cùng với việc xác định khả năng tẩy của dung dịch chất hoạt động bề mặt và chất tẩy rửa bằng cách đo độ trắng của vải, chúng tôi cũng nghiên cứu khả năng tẩy rửa thông qua việc đo sức căng bề mặt của chúng.

Ta biết rằng khi cho một chất hoạt động bề mặt vào một vết bẩn dầu mỡ thì nó sẽ hấp phụ lên bề mặt phân cách dầu/nước hoặc với nước làm giảm lực bám dính của dầu với bề mặt. Sự hấp phụ càng mạnh mẽ thì sẽ càng làm giảm nhiều sức căng bề mặt của dầu trong dung dịch chất hoạt động bề mặt và sự tẩy rửa càng tốt. Việc giảm các sức căng giao diện được thể hiện cụ thể bởi tính làm ướt.

Nguyên tắc.

Khi hoà tan chất hoạt động bề mặt vào bề mặt nhiễm bẩn dầu mỡ thì phân tử chất hoạt động bề mặt hấp phụ trên bề mặt phân chia nước/dầu. Chính sự hấp phụ này làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch.

Ở mỗi nhiệt độ, sức căng bề mặt của dung dịch phụ thuộc vào nồng độ

chất hoạt động bề mặt theo phương trình thực nghiệm :

λ = λo - a. ln(1+b. C) 

Trong đó :

λ, λo: sức căng bề mặt của dung dịch nồng độ C và dung môi nước nguyên chất.

a, b         : các hằng số thực nghiệm.

Ta có nhiều phương pháp để đo sức căng bề mặt của chất lỏng như:

Phương pháp dâng mao quản.

Phương pháp đếm giọt.

Phương pháp đo sức căng bề mặt áp suất lớn nhất của bọt khí.

Phương pháp tách vòng.

Để đo SCBM của chất tẩy rửa trong nước ta dùng phương pháp tách vòng.

Đo SCBM theo phương pháp tách vòng.

*Dụng cụ đo :

Cốc đựng mẫu dung dịch. - Vòng đo. - Thiết bị treo vòng.

–Kẹp, Thiết bị điều chỉnh cân bằng.

Đo thời gian (tính bằng giây) của một thể tích chất lỏng chảy qua mao quản của một nhớt kế chuẩn, dưới tác dụng của trọng lực ở nhiệt độ xác định. Độ nhớt động học là tích số của thời gian chảy đo được và hằng số hiệu chuẩn của nhớt kế. Hằng số của nhớt kế chuẩn được xác định bằng cách chuẩn trực tiếp với các chất chuẩn đã biết trước độ nhớt.

*Cách tiến hành :

Đầu tiên chỉnh cho máy đạt cân bằng. Chuẩn bị :

Nhấn nút khởi động máy, chờ máy khởi động xong nhấn nút Start.

Chọn đo SCBM.

Đặt các thông số :

+ Thông số vòng là : 6,1858

+ R/r là : 54,2857

+ D/d (tỷ trọng của 2 môi trường không khí và chất cần đo)

+ Đặt nhiệt độ tiến hành thí nghiệm. Tiến hành đo:

Cho chất lỏng cần đo vào trong cốc (1) khoảng từ 130-150ml, đặt vào máy, sau đó dùng cần chỉnh thô điều chỉnh sao cho vòng (2) ngập trong chất lỏng khoảng 3-5mm. Nhấn nút Enter thấy phát ra tiếng” pip”, nhấn nút zero trả về giá trị 0. Tiến hành chỉnh tinh cho đến khi nào vòng 2 tách khỏi bề mặt chất lỏng, nhấn nút Enter thì máy sẽ cho giá trị của SCBM cần đo.

*Chú ý :

Trước khi đo cốc cần phải được rửa sạch và sấy khô.

Phải chỉnh cho vòng đo ở vị trí cân bằng không bị lệch, để phép đo được chính xác.

Sau khi tiến hành xong thí nghiệm phải dùng kẹp cặp vòng, nhúng vào

dung môi để rửa sạch, sau đó cho vào hộp.

Quan hệ giữa SCBM và nồng độ dung dịch.

Khi hoà tan chất hoạt động bề mặt vào nước thì các phân tử chất tan sẽ đ- ược hấp phụ trên bề mặt phân chia lỏng khí. Chính sự hấp phụ đó làm giảm SCBM của dung dịch.

Nồng độ chất hoạt động bề mặt càng lớn thì độ hấp phụ càng lớn và SCBM càng nhỏ.

Do đó nếu nồng độ của dung dịch giảm thì độ hấp phụ lỏng-khí giảm và sức căng bề mặt của dung dịch sẽ tăng.

Ở mỗi nhiệt độ SCBM của dung dịch phụ thuộc vào nồng độ chất hoạt

động bề mặt theo phương trình :

σ = σo - a. ln(1+ bc)

Trong phương trình này: σ, σo là sức căng bề mặt của dung dịch ở nồng độ C và của dung môi (nước) nguyên chất (C=0). a, b: là các hằng số thực nghiệm.

Xác định độ nhớt động học.

Định nghĩa.

Độ nhớt động học (kí hiệu là υ ) là tỷ số giữa độ nhớt động lực và mật độ của chất lỏng, nó là số đo lực cản chảy của một chất lỏng dưới tác dụng của trọng lực.

Trong hệ CGS, độ nhớt động học biểu thị bằng Stoc (St); 1St = 1cm2/s.

Trong thực tế thường dùng đơn vị centiStoc (cSt). 1cSt = 0,01St = 1mm2/s.

Nguyên tắc.

d. Tiến hành đo.

Lắp đặt dụng cụ như hình mẫu:

Lắp nhớt kế đã lựa chọn vào vị trí sao cho thẳng đứng. Nhớt kế được chọn đã xác định hằng số chuẩn C. Nhớt kế phải khô sạch, có miền làm việc bao trùm độ nhớt của chất cần xác định.

Cắm công tắc điện.

Bật công tắc cho thiết bị ổn nhiệt hoạt động.

Sau khi đã nạp mẫu và để ổn nhiệt, dùng quả bóp đưa chất cần đo đến vị trí cao hơn vạch đo thời gian đầu tiên khoảng 5mm trong nhánh mao quản của nhớt kế.

Khi mẫu chảy tự do, đo thời gian chảy tính bằng giây từ vạch thứ nhất đến vạch thứ hai.

Tiến hành khoảng 3 lần lấy giá trị trung bình. Kết quả sai lệch không được quá ± 1,2 - 2,5%.

Tính độ nhớt động học theo công thức: υ = C. t Trong đó:

υ : độ nhớt động học, tính bằng cSt hay mm2/s.

C: hằng số của nhớt kế, mm2/s2. t: thời gian chảy, s.

Xác định điện thế zeta

Điện thế zeta được xác định thông qua việc đo độ điên di.

Có nhiều phương pháp để xác định tốc độ điện di như: phương pháp Hittooc, phương pháp Tiđêliut, phương pháp giới hạn dịch chuyển… Nhưng ở đây dùng phương pháp giới hạn dịch chuyển, vì đây là phương pháp đơn giản, dễ dàng thực hiện trong phòng thí nghiệm và kết quả đo được tương đối chính xác. Nguyên tắc đo là dựa vào việc đo tốc độ dịch chuyển của mặt phân cách giữa dung dịch chất tẩy rửa và chất lỏng phụ dưới tác dụng của điện trường

*Dụng cụ đo điện di

Dụng cụ phổ biến nhất dùng để đo độ điện di có dạng hình ống chữ U, hai nhánh có hai van, lỗ của van bằng đường kính trong của ống. Trước khi thực nghiệm, dụng cụ cần phải rửa cẩn thận, sấy khô. Ví dụ dùng nước lạnh, tốt hơn là dùng axít cromic nóng và sau đó tráng rửa nhiều lần ở vòi nước, tiếp theo là nước cất. Sau đó rút van ra khỏi dụng cụ, sấy dụng cụ và van trong tủ sấy. Sau đó để nguội trong không khí, lắp van vào. Nếu van chưa kín thì dùng mỡ chân không.

*Quy trình đo độ điện di

Quá trình đo độ điện di của dung dịch chất tẩy rửa gồm những bước sau:

Nạp chất lỏng đệm vào dụng cụ đo điện di (chất lỏng đệm lựa chọn ở đây là TEA,trietanol amin) có khối lượng riêng lớn hơn khối lượng riêng của dung dịch nên ở phía dưới).

Khóa hai van ở hai nhánh lại, rửa sạch bằng nước để phía trên không còn TEA nữa.

Nạp dung dịch mẫu cần đo độ điện di vào dụng cụ (chú ý: khi đo van phía trên nối giữa hai ống phải mở, mức dung dịch mẫu đổ vào phải cao hơn ống nối hai nhánh).

Cắm hai điện cực vào hai nhánh của dụng cụ đo. Khi mức chất lỏng ở hai nhánh đã cân bằng thì đóng khóa van ở phía trên lại.

Nhẹ nhàng mở hai khóa ở hai nhánh, sau đó bật công tắc của bộ ổn áp điện, đặt điện áp ở trên hai cực điện là V.

Quan sát độ dịch chuyển của bề mặt phân chia pha. Khi bề mặt này đi qua điểm 0 thì bật đồng hồ bấm giây, sau khi nó dịch chuyển được quãng đường S thì ta ghi lại khoảng thời gian dịch chuyển đó .

*Quy trình xác định điện thế Zeta

Đo khoảng cách l giữa hai điện cực theo chiều cong của ống. Xác định giá trị trung bình của gradien thế H:

H =  V/ 300l (đơn vị tĩnh điện tương đối/cm)

Tính tốc độ dịch chuyển U theo phương trình     

U = S/(t × H)

Trong đó S là khoảng cách dịch chuyển được của bề mặt phân chia pha sau khoảng thời gian t giây. S tính bằng cm.

Biết giá trị U có thể tính được giá trị thế zeta nhờ vào đơn vị tĩnh điện.

ξ = kxπxη × U /D (Vol)      (4)

Hay hiển thị thế ξ theo Vol: ξ =  kxπxη × U x 300/D (Vol)     (5)

Trong đó:

D: Độ từ thẩm điện môi của chất lỏng. Đối với nước D= 81, η= 0,0894 ở 25oC.

η: Độ nhớt của dung dịch keo. k: Là hằng số phụ thuộc vào hình dạng hạt (đối với hạt hình cầu k = 6, đối với hạt hình trụ k = 4).

Nếu chất lỏng đệm có tính dẫn điện riêng x0 khác nhiều so với độ dẫn điện của chất lỏng của dung dịch keo x, thì khi tính giá trị gradien của thế cần phải biết x0 và x cũng như khoảng cách lk giữa hai mặt ranh giới phân chia của hai chất lỏng đó. Tính toán giá trị gradien thế trong dung dịch keo dựa trên cơ sở sau:

Ký hiệu gradient điện thế trong chất lỏng đệm qua Hσ, có thể viết:

V = Hlk + Hσ(l – lk)           (6)

Do sụt áp hoàn toàn trong trường hợp này có thể viết: Mức sụt áp trong dung dịch keo Hlk và mức sụt áp trong chất lỏng đệm Hσ(l – lk).

Do vậy, theo định luật ôm, cường độ dòng điện trong tất cả các mạch điện nối tiếp nhau thì như nhau:

Hlk /Rk =  Hσ (l − lk )/Rσ  (7)

Trong đó: Rk và Rσ là điện trở của chất lỏng keo và chất lỏng đệm. Do điện trở tổng cộng của dây dẫn điện có thể biểu thị qua điện trở dẫn điện riêng ρ, chiều dài l, tiết diện cắt ngang S.

R = ρ l/ S thì Rk = ρk lk/ S (8)

Rσ = ρσ (l − lk)/S

Trong đó: ρk và ρσ là điện trở dẫn điện riêng của dung dịch keo và chất lỏng.

Thay giá trị Rk và Rσ vào phương trình (7) ta được:

H/ρk  = Hσ/ρσ         (9)

Hay        Hσ =  ρσ/ρk xH(10)

Đặt giá trị Hσ vào phương trình (6) được:

V = ρσ/ρkH (l − lk ) + Hlk (11)

Theo phương trình này, gradient điện thế H trong dung dịch keo sẽ là:

H =   V/ [x/x0 (l − lk ) + lk] (12)

Xác định nồng độ mixen tới hạn

*Định nghĩa

Khi hòa tan chất tẩy rửa vào nước sẽ tạo thành nhũ tương. Trong dung dịch nước sẽ hình thành các hạt mixen, và nếu tiếp tục tăng nồng độ chất tẩy rửa thì lượng các hạt mixen cũng tăng lên. Sự hình thành các mixen làm cho sức căng bề mặt và độ dẫn điện thay đổi đột ngột và tại nồng độ có sự thay đổi đó gọi là nồng độ mixen tới hạn.

*Các phương pháp xác định nồng độ mixen tới hạn

Có nhiều cách để xác định nồng độ mixen tới hạn. Trong khuôn khổ của luận án này, đã lựa chọn phương pháp xác định nồng độ mixen tới hạn dựa vào mối quan hệ với SCBM. Phương pháp này đơn giản, thao tác dễ dàng, thời gian xác định nhanh, kết quả thu được khá chính xác.

Khi tăng nồng độ của CTR thì SCBM của dung dịch CTR sẽ giảm, từ đó làm tăng khả năng tẩy sạch của dung dịch CTR. Nhưng khi tăng nồng độ của CTR lên quá nồng độ mixen tới hạn, do khi đó xảy ra quá trình keo tụ nên sức căng bề mặt của dung dịch sẽ tăng lên và khả năng tẩy rửa của dung dịch bị giảm. Chính vì vậy, để xác định nồng độ mixen tới hạn của dung dịch CTR, cần phải đo SCBM của dung dịch CTR tại nhiều nồng độ khác nhau xung quanh nồng độ mixen tới hạn.

Các bước tiến hành xác định nồng độ mixen tới hạn của dung dịch CTR như sau:

Bước 1: Pha chính xác các mẫu dung dịch CTR có nồng độ thay đổi xung quanh nồng độ mixen tới hạn.

Bước 2: Xác định SCBM tương ứng của các mẫu dung dịch CTR ở

cùng một điều kiện nhiệt độ.

Bước 3: Xây dựng đồ thị biểu diễn sự liên hệ giữa SCBM và nồng độ của dung dịch.

Bước 4: Xác định vị trí trên đồ thị mà giá trị SCBM của dung dịch thay đổi đột ngột. Nồng độ của dung dịch tương ứng với giá trị SCBM đó chính là nồng độ mixen tới hạn.

Xác định chỉ số cân bằng tính ưa dầu nước HLB

* Đối với chất chất hoạt động bề mặt không ion

Có thể xác định chỉ số HLB bằng thực nghiệm, chẳng hạn với loại chất chất hoạt động bề mặt trên cơ sở oxyt etylen ta có thể thực hiện như sau: Hoà tan 5 phần khối lượng chất chất hoạt động bề mặt tinh khiết vào 20 phần khối lượng toluen, sau đó bổ sung thêm 5 phần khối lượng H2O và duy trì ở nhiệt độ 20oC. Nhỏ từ từ etanol tuyệt đối cho đến khi nhận được dung dịch trong suốt. Lượng etanol tiêu tốn được qui ra chỉ số HLB: 0,88 ml etanol sẽ tương đương với 1 đơn vị HLB [18]

Cách làm như sau: Hoà tan 10 g chất CTR vào 40 g toluen, khuấy đều, sau đó bổ xung 10 ml nước. Khuấy và giữ ở nhiệt độ 20oC. Nhỏ từ từ cồn etanol tuyệt đối (99%) cho đến khi dung dịch trở nên trong suốt. Lượng etanol tiêu tốn được qui ra chỉ số HLB theo tài liệu [18] là 0,88 ml etanol tương ứng với 1 đơn vị HLB. Kết quả được đưa ra ở các bảng trong phần thảo luận kết quả.

*Đối với chất chất hoạt động bề mặt an ion

Cân chất chất hoạt động bề mặt hoặc hỗn hợp chất chất hoạt động bề mặt cho vào bình có sẵn hỗn hợp gồm 96% dioxan và 4% benzen. Lắc cho đến khi chất chất hoạt động bề mặt tan hoàn toàn thành dung dịch đồng nhất. Chuẩn độ bằng nước cất từ buret cho tới khi xuất hiện vết đục bền trong 30 giây. Chuẩn độ 3 lần và lấy kết quả trung bình.

Pha chế dung dịch tẩy trắng

Nguyên liệu

H2O2 dung dịch 35%. - Na2CO3.

Thiết bị, dụng cụ

Cốc thủy tinh 100ml

Ống đong, pipet.

Cân phân tích.

Bếp khuấy từ gia nhiệt

Pha chế

Cân và đo chính xác thành phần các chất đã định trước.

Cho 50ml nước vào cốc, hòa tan Na2CO3 , có thể gia nhiệt nếu cần thiết.

Để nguội, cho H2O2 vào

Khuấy trộn

Đánh giá khả năng tẩy trắng

Ngâm mẫu để xác định khả năng tẩy trắng

Mẫu vải đã được tẩy dầu mỡ tiếp tục được cho qua dung dịch tẩy trắng đã pha chế, ngâm mẫu vải trong những khoảng nhiệt độ khác nhau, rửa lại một lần nữa bằng nước sạch. Đem mẫu vải vừa tẩy đi phơi khô và cho vào túi đựng mẫu để đem đi đo độ trắng.

Đo độ trắng của vải (đo tại: Viện Kinh tế và Kỹ thuật Dệt may)

Tiêu chuẩn đo độ trắng : ISO105J02

Máy đo : Gretag Macbeth

ColorEye 2180 UV

Nguyên lý của phép đo : Phép đo dựa trên cơ sở sử dụng quả cầu tích phân. ánh sáng chiếu thẳng vào mẫu và tán xạ vào quả cầu tích phân. Phần ánh sáng từ quả cầu tích phân sẽ được chiếu thẳng tới tế bào quang điện. Tại đó, máy sẽ tự động đo cường độ ánh sáng đã được chuyển thành tín hiệu điện, tương ứng với các bước sóng từ 380-700 nm. Phụ thuộc vào mức độ phản xạ khác nhau của các bước sóng khác nhau mà xây dựng được đường cong phản xạ của ánh sáng theo bước sóng. Tương ứng với các vị trí trên đường cong, khi tổ hợp lại sẽ xác định được màu.


tinkhoahoc