Phương Nam Co LTD
Thi công xây dựng phần thô
© 17/12/2018 - Vietnam12h.com Application
 Đơn giá nhân công xây dựng nhà phố, biệt thự, nhà cấp 4

Ba yếu tố của quá trình thi công, xây dựng nhà đẹp, nhà ở: nhân công xây dựng “lao động”, tư liệu lao động và đối tượng lao động, trong đó nhân công xây dựng là yếu tố căn bản nhất lao động là điều kiện cần thiết hàng đầu và cơ bản nhất của cuộc sống xã hội loài người, nó cung cấp những tư liệu sinh hoạt cho cuộc sống. Bộ phận chính để thực hiện tổ chức lao động hợp lý là công tác định mức kỹ thuật lao động, được xây dựng trên cơ sở quy trình công nghệ và những kinh nghiêm sản xuất tiên tiến.

Định mức kỹ thuật lao động, đơn giá nhân công xây dựng nhà phố, biệt thự, nhà cấp 4 là mức quy định lượng lao động cần thiết để hoàn thành một công tác nào đó trong điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định với công nhân có trình độ chuyên môn tương ứng.

Nội dung của công tác định mức kỹ thuật lao động, đơn giá nhân công xây dựng nhà phố, biệt thự, nhà cấp 4  bao gồm:

Nghiên cứu tổ chức thi công xây dựng nhà ở, tổ chức lao động và chi phí thời gian làm việc của công nhân với mục đích xây dựng hoàn thiện nhà ở và đưa vào sản xuất những hình thức tổ chức lao động hợp lý làm phương thức cho việc nâng cao nslđ, hạ giá thành xây dựng nhà ở  từ hạng mục phần thô đến hoàn thiện nhà đẹp và cải thiện điều kiện lao động;

Xác định chi phí thời gian, giá thành nhân công xây dựng nhà ở của công nhân cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ công tác (định mức thời gian) thích ứng với điều kiện phát triển kỹ thuật và tổ chức sản xuất hiện tại;

Tạo điều kiện để tổ chức tiền lương phù hợp với nguyên lắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động;

Nghiên cứu phương pháp lao động tiên tiến, phổ biến chứng một cách rộng rãi, tổ chức các phong trào thi đua xhcn.

Vai trò của định mức kỹ thuật lao động trong việc tổ chức lao động và kế hoạch hóa sản xuất

Tất cả các hoạt động như: tổ chức lao động hợp lý, bố trí công nhân theo nơi làm việc phù hợp với trình độ của họ và cấp bậc công việc, việc xác định hình thức tổ chức lao động hợp ]ý cho các loại công việc khác nhau (cá nhân, nhóm, tổ... ) và tổ chức nơi làm việc, sử cấu tạo hợp lý các cá kíp và nội quy của nó, việc áp dụng các phương pháp tạo đống tiên tiến và tổ chức thi đua xhcn... Đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn liền với định mức lao động.

Định mức lao động là cơ sở của sự hoàn thiện tổ chức lao động trong các doanh nghiệp và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Với định mức lao động, có thể xét lao động của công nhân trong sản xuất đã được tổ chức hợp lý và sử dụng có hiệu quả hay không. Vì vậy cẩn phải bố trí lao động một cách hợp lý trong quá trình sản xuất, sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc của mỗi công nhân và thời gian sản xuất của từng nơi công tác cũng như trong toàn doanh nghiệp. Nhờ có định mức lao động, đã giải quyết được các vấn đề tương tự về sự phân phối lao động ở trong các tổ chức sản xuất, tổ chức nơi làm việc và các vấn đé khác có liên quan của tổ chức lao động trong doanh nghiệp. Định mức lao động có ý nghĩa đặc biệt đối với kế hoạch hóa sản xuất của doanh nghiệp. Kế hoạch của các doanh nghiệp được lập ra trên cơ sở toàn bộ hệ thống định mức lao động, định mức sử dụng thiết bị máy móc, định mức tiêu dùng nguyên vật liệu, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm... Định mức chi phí thời gian làm việc chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống định mức đó.

Trên cơ sở định mức thời gian làm việc, tiến hành tính toán khả năng thiết bị trong sản xuất, bố trí và xác định nơi làm việc, phạm vi và năng lực sản xuất của toàn bộ doanh nghiệp, kế hoạch hóa việc đào tạo cán bộ, công nhân.

Xuất phát từ định mức thời gian xác định được nhu cầu về công nhân theo số lượng, nghề nghiệp và trình độ chuyển môn, tiến hành tính toán nhiệm vụ tăng nslđ, nhu cầu về quỹ tiền lương và xác định chi phí tiền lương trên đơn vị sản phẩm.

Cũng trên cơ sở định mức thời gian có thể lặp. Quy định nhiệm vụ kế hoạch của các đội: khu vực và các nơi làm việc hàng tháng, tuần vỉíjìw ca... Tính toán thời hạn chu kỳ làm việc của máy, tiến độ sản xuất...

Định mức lao động còn có tác dụng rất lớn trong méc tổ chức, phát triển phong trào thi đua xhcn, là công cụ thức đẩy người chậm tiên đuổi kịp người tiên tiến, là tiêu chuẩn khách quan để người lao động phấn đầu nâng cao trình độ chuyên môn và hiểu biết kỹ thuật, tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao hơn nữa năng suất lao động.

Các bộ phận cấu thành của quá trình thi công xây dựng phần thô đến hoàn thiện nhà ở

Đê giải quyết các nhiệm vụ của công tác định mức kỹ thuật lao động, xây dựng định mức , nghiên cứu phương pháp lao động tiên tiến... Việc nghiên cứu quá trình xây dựng được tiến hành bằng cách phân chìa quá trình xây dựng thành các bộ phận cấu thành của nó. Việc nghiên cứu như vậy cho phép xác định được những lính chất quy luật ảnh hưởng đến trị số của chi phí lao động và chi phí thời gian sử dụng máy.

Phần nhỏ nhất của quá trình xây dựng trong công tác định mức là động tác. Động tác là tổng hợp những vận động của công nhân theo một mục đích và hướng nhất định chứng được thực hiện theo một trình tự xác định đảm bảo nội dung công nghệ cần thiết của quá trình lao động. Nội dung của bất kỳ quá trình lao động nào cũng được đặc trưng bởi sự tổng hợp của các động tác có liên quan với nhau về mặt tổ chức và công nghệ. Ví dụ: để xếp đá vào vị trí cần xây (trong việc xây móng đá) người công nhân cần thực hiện một số động tác: quay đầu nhìn đống đá, giơ tay, nâng hòn đá, đặt hòn đá vào vị trí xây... Người công nhân thực hiện những động tác này trực tiếp bằng tay, chân, mắt hoặc toàn thân.

Tổng hợp những đồng tác có liên quan với nhau về mặt công nghệ khi thực hiện những bộ phận riêng biệt của quá trình lao động gọi là thao tác: thao tác là đối tượng để nghiên cứu và xác định nội dung, kết cấu hợp lý của quá trình xây dựng. Thao tác được phân thành thao tác chính và thao tác phụ. Thao tác chính là thao tác trực tiếp thực hiện việc làm ra sản phâm làm cho muc đích việc chế tạo sản phẩm đươc thực hiện. Thao tác phụ là thao tác nhằm đảm bảo thực hiện thao tác chính.

Tổng hợp các thao tác nhằm thu được kết quả nhất định, có thể đo và thống kê một cách đứng đắn, tức là sản phẩm ban đầu gọi là bước công việc : bước công việc là thành phần chủ yếu của quá trình xây dựng, nó không thể phân chia về phương diện tổ chức và phương diện công nghệ mà chỉ có thể phân chia theo dấu hiệu lao động. Bước công việc được đặc trưng bởi sự cố định của thành phần công nhân, nơi làm việc, thiết bị hay công cụ lao động và đối tượng lao động. Việc thay đổi một trong các đặc trưng trên có nghía là đã thay đổi sang một bước công việc khác.

Bước công việc là mấu chốt để định ra quy trình thao tác hợp lý, đồng thời là đối tượng để xây dựng định mức kỹ thuật lao động.

Tổng hợp các bước công việc có liên quan với nhau về mặt công nghệ do những công nhân cố định thực hiện tạo thành quá trình xây dựng đơn giản.

Quẳ ĩrình xéy dựng đơn giản : được đặc trưng bởi sự cố định về số lượng bước công việc cấu thành nó. Số lượng bước công việc trong một quá trình xây dựng đon giản nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô, tính chất xây dựng, trình độ trang bị thiết b| và chuyên môn hóa, trình độ tổ chức lao động.

Tổng hợp một số quá trình xây dựng có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt tổ chức nhằm hoàn thành sản phẩm cuối cùng tạo thành quá trình xây dựng tổng hợịi.

Sơ đồ phân loại quá trình xây dựng từ phần thô đến hoàn thiện ngôi nhà

Phân tích chi phí thời gian làm việc

Nhiệm vụ quan trọng của công tác tổ chức định giá nhân công xây dựng nhà ở trong xây dựng là hướng tới việc hoàn thiện quá trình thi công xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc của công nhân và của thiết bị, xác định các định mức có căn cứ khoa học.

Để giải quyết nhiệm vụ này cần nghiên cứu một cách có hê thống thời gian làm việc của công nhân. Đây là phương pháp hợp lý nhất, trên cơ sở đó lập dự án quá trình lao động, hoàn thiện các đơn giá xây dựng thời gian, nghiên cứu và tổng hợp các kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.

Nghiên cứu chi phí thực tế về thời gian làm việc của công nhân cho khả năng vạch ra những thời gian tồn thất và nguyên nhân của những tồn thất đó, nghiên cứu biện pháp để khắc phục chứng nhằm nâng cao nslđ. Để đạt mục đích đó ta cần phân loại chi phí thời gian thành từng nhóm với yêu cầu phải nêu lên được sự tham gia của công nhân trong việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, phân biệt thời gian công tác và thời gian gián đoạn, nêu rõ chi phí thời gian cần thiết, hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất.

Việc phân loại chi phí thời gian cần phù hợp vái mục đích, nhiệm vụ và đặc tính của phương pháp xác định định mức kỹ thuật.

Thời gian làm việc của công nhân bao gồm thời gian làm việc có định mức và thời gian làm việc không có định mức (xem sơ đồ phân loại thời gian làm việc của công nhân)..

Thời gian làm việc có định mức gồm:

Thời gian tác nghiệp là thời gian trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hoặc hoàn thành một công việc nhất định phù hợp với quy trình kỹ thuật thi công và chất lượng sản phẩm. Thời gian tác nghiệp lại gồm :

Thời gian tác nghiệp chính: là thời gian tiêu hao để thực hiện các thao tác chủ yếu trong quá trình thi công, làm thay đổi hình dáng, kích thước, thành phần, tính chất, cách sấp xếp giữa các bộ phận của đối tượng lao động và thực hiện mục đích của công việc. Nó còn gồm cả việc kiểm tra, quan sát hữu ích và cái di chuyển không thể tránh khỏi về phương diên kỹ thuât thi công.

Thời gian tác nghiệp phụ: là thời 3ìan tièu hao cho các công việc chăm sóc, điều chỉnh dụng cụ, máy móc và nơi làm việc, xuy ra xen kẽ trong quá trình thì cỏng, (nếu các công việc này xảy ra ở đầu hoặc cuối cá thì lại thuộc thời gian chuẩn kết).

Qua nghiên cứu thời gian tác nghiệp ta thấy nếu tỷ lệ thời gian tác nghiệp trong cá (ngày) càng lớn càng tốt và nếu thời gian tác nghiệp cho một đơn vị sản phẩm càng rút ngắn càng tốt.

Thời gian chuẩn bị kết thúc là thời gian cần thiết để người công nhân sử đụng trong việc chuẩn bị và kết thúc công việc. Chi phí thời gian này chỉ có ở trước khi bắt đầu và sau khi hoàn thành công việc. Thời hạn của nó không phụ thuộc vào khối lượng công tác lúc chuẩn bị, trong khi tiến hành và kết thúc công tác.

Thời gian ngừng và nghỉ được định mức gồm:

Ngừng việc vì lý do kỹ thuật và tổ chức thi công là thời gian ngừng việc hợp lý không thể tránh khỏi do tính chất của quá trình thi công

Thời gian nghỉ giải tạo và nhu cầu tự nhiện là thời gian người công nhân nghỉ ngơi trong quá trình làm việc với mục đích ngăn ngừa sự mệt nhọc, duy trì khả năng làm việc bình thường và thời gian để công nhản giải quyết các nhu cầu tự nhiện như uống nước, đại tiểu tiện... Số lượng thời gian này nhiều hay ít phụ thuộc vào điều kiện lao động.

Thời gian lãm việc không được định mức gồm:

Thcá gian làm việc không phù hợp với nhiệm vụ là thời gian hao phí cho các công việc không thấy trước (xảy ra có tính chất ngẫu nhiện trong quá trình thi công mà phải giải quyết) và thời gian làm công tác thừa không có trong quá trình thi công như sửa lại các chỗ làm hỏng, không đứng quy cách, kém chất lượng hoặc những công việc ngoài kế hoạch.

Thời gian ngừng không được định mức gồm:

Thời gian ngừng việc do tổ chức sản xuất tồi như tìm bản vẽ, tìm dụng cụ, do để dụng cụ, bản về không đứng nơi quy định.

Thời gian ngừng vì nguyên nhân khách quan có tính chất ngẫu nhiện như mưa, bão, mất điện, mất nước...

Thời gian ngừng do công nhân vi phạm kỷ luật lao động như nghỉ tự do, đi muộn về sớm...

Định mức hao phí thời gian lao động cho một đơn vị sản phẩm.

Được tính toán theo công thức sau:

Đ = Ttn (100/[100- (tck +tgl +tngkt)]

Đ = Ttn + Tck + Tgl + Tngkt

Trong đó:

Đ: định mức hao phí thời gian cho một đơn vị sản phẩm (hoặc một đơn vị khối lượng công tác);

Ttn: thời gian tác nghiệp tính cho một đơn vị sản phẩm (tính theo số tuyệt đối);

Tck: thời gian chuẩn kết tính cho một đơn vị sản phẩm (tính theo số tuyệt đối);

Tgl, Tngkt: thời gian nghỉ giải tạo và nhu cầu tự nhiên, thời gian ngừng vì lý đo kỹ thuật, thời gian phải chờ hợp lý theo quy trình sản xuất tính cho một đơn vị sản phẩm (tính theo số tuyệt đối);

Tck , Tgh,  Tngtk : thời gian chuẩn kết, thời gian nghỉ giải lao, thời gian ngừng kỹ thuật tính theo (%) so với tổng thời gian của quá trình định mức.


Link Đọc file PDF hoặc tải file pdf về máy tính
XDTC