Phương Nam Co LTD
Cung cấp polysorbate (tween) Korea
© 18/9/2021 - Vietnam12h.com Application

Tween polysorbate 80 hóa chất hoạt động bề mặt



Tiêu chí lựa chọn chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... cho tăng cường thu hồi dầu

Từ đặc thù của các mỏ dầu ở Việt Nam (nhiệt độ, áp suất, nồng độ khoáng của nước bơm ép rất cao; thường xuyên xảy ra hiện tượng phân hủy, cắt mạch chất hoạt động bề mặt, hiện tượng kết tủa do muối hay hấp phụ trong đá chứa…), Phương Nam đưa ra các tiêu chí lựa chọn chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... để đảm bảo hiệu quả khi sử dụng:

Các chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... được sử dụng tạo được sức căng bề mặt đủ thấp để thay đổi được tính dính ướt giá thành cho một đơn vị khai thác dầu thô;

Các chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... dùng trong tăng cường thu hồi dầu phải có chỉ số cân bằng dầu nước (HLB - hydrophile lipophile balance) ≥ 8 (có tính thấm ướt, nhũ hóa, tẩy rửa và hòa tan).

Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

Để có hiệu ứng giảm sức căng bề mặt một hỗn hợp hai hay nhiều chất hoạt động bề mặt phải có sự tương tác giữa các chất hoạt động bề mặt. Tương tác này có thể hình thành do lực hút tĩnh điện giữa 2 nhóm dầu ưa nước trái dấu, hoặc lực hấp dẫn Van der Waals giữa các nhóm đuôi kỵ nước, trong đó lực hút tĩnh điện thường tạo ra tương tác mạnh hơn [27]. Mặt khác, sức căng bề mặt sẽ đạt giá trị cực thấp khi hệ số xếp chặt (packing parameter) các phân tử chất hoạt động bề mặt trên bề mặt liên diện hai pha dầu - nước tiến gần tới 1, điều này chỉ đạt được khi có sự ghép không đối xứng các nhóm kỵ nước trong hỗn hợp nhiều chất hoạt động bề mặt khác nhau cho phép tập hợp nhiều phân tử chất hoạt động bề mặt trên bề mặt liên diện hơn là giữa các nhóm kỵ nước của cùng một chất hoạt động bề mặt [30].

Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã nghiên cứu và chọn ra 3 chất hoạt động bề mặt phù hợp là AOS, SDBS và tween 80 (polysorbate80) từ rất nhiều các chất hoạt động bề mặt khác nhau có thể đáp ứng được các tiêu chí phù hợp cho tăng thu hồi dầu để tiến hành thử nghiệm và sau đó pha chế xác định tỷ lệ tối ưu theo phương pháp quy hoạch thực nghiệm:

- Chất hoạt động bề mặt: Alpha olefin sulfonate (AOS), Polyoxyethylene sorbitan monooleate ( tween 80 (polysorbate80) ), Sodium dodecylbenzene sulfonate (SDBS);

S1dd: Độ bão hòa dầu dư sau khi đẩy dầu bằng nước (p.đ.v);

S2dd: Độ bão hòa dầu dư sau khi đẩy dầu bằng chất hoạt động bề mặt (p.đ.v);

K1 , K2 : Độ thấm nước trước và sau khi bơm đẩy chất

- Dung môi và phụ gia: Butanol, Thiourea (phụ gia hoạt động bề mặt (mD); bền nhiệt cho hệ chất hoạt động bề mặt);

Kph : Tổ hợp số phục hồi độ thấm (p.đ.v);

Dầu thô chạy mô hình vỉa: Dầu thô Bạch Hổ giếng.

Để có thể đánh giá được độ bền nhiệt của các chất hoạt động bề mặt phù hợp với điều kiện vỉa cát kết tầng Oligocen mỏ Bạch Hổ, đồng thời đưa ra được kết luận về tổ hợp chất hoạt động bề mặt tối ưu, nhóm tác giả đã tiến hành thử nghiệm với nội dung như sau:

Xác định nồng độ tới hạn tạo micelle: nồng độ tới hạn tạo micelle được xác định bằng phương pháp đo sức căng bề mặt của dung dịch chất hoạt động bề mặt tại các nồng độ khác nhau, qua đó xác định điểm nhảy của sức căng bề mặt và tính toán CMC;

Dựa trên định luật Lambert-Beer, độ hấp phụ các chất hoạt động bề mặt trên bề mặt đá vỉa được xác định bằng máy quang phổ UV;

Xác định sức căng bề mặt của chất hoạt động bề mặt bằng phương pháp giọt quay (Spinning drop) mẫu đo được thực hiện ở nhiệt độ 140oC; Xác định tính dính ướt của bề mặt đá theo phương pháp đo góc tiếp xúc trên hệ thống máy KRUSS G10;

Xác định trạng thái pha của dung dịch chất hoạt động bề mặt và dầu vỉa;

Xác định hệ số đẩy dầu: thực hiện trên mô hình vỉa: η1 = (1 - Snd - S1dd)/(1 - Snd);

η2 = (1 - Snd - S2dd)/(1 - Snd);

Kph = K2/K1;

∆η = η2 - η1; Trong đó:

Snd: Độ bão hòa nước dư;

∆η: Gia tăng hệ số đẩy dầu do bơm nút chất hoạt động bề mặt (p.đ.v).


 
So sánh dược động học trên động vật thí nghiệm của thuốc tiêm chứa PTX
Bartoli và cộng sự (1990) so sánh hiệu quả của PTX trong cả hai công thức hạt nano và liposom với các dung dịch PTX trong DMSO và CrEL cả in vitro và in vivo trong các mô hình bệnh bạch cầu P388 và L1210. Nghiên cứu đã kết luận rằng công thức liposom PTX vượt trội hơn trên in vitro và in vivo, trong khi công thức nano thấy có độc tính chủ yếu là do thành phần các tá dược (tween polysorbate 80) công thức.
Quy trình định lượng PTX trong dịch sinh học
Guo Wei, Jenifer L. Johnson và cộng sự (2005) định lượng PTX trong huyết tương và mô chuột sau khi tiêm dạng bào chế liposom của PTX. Dịch đồng nhất hoá được thêm vào dung môi chiết acetonitril chứa 0,1% acid acetic, chất diên hóa tween 80. Thêm nội chuẩn doxetaxel vortex, ly tâm, phần dịch được lấy để tiến hành sắc ký. Điều kiện sắc ký là Cột ODS3, pha động methanol - nước - tetrahydrofuran (70 : 27,5 : 2,5), tốc độ dòng 1 mL/phút và phát hiện ở bước sóng 230 nm [26].
Định lượng curcumin bằng phương pháp quang phổ UV-Vis
Xây dựng và thẩm định quy trình định lượng curcumin trong hệ phân tán rắn (môi trường chứa 0,02% Tween 80) bằng phương pháp quang phổ UV-Vis và trong viên nén nổi bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Tween polysorbate 80 và tá dược bào chế hệ phân tán rắn của curcumin
Hệ phân tán rắn của curcumin với PEG, PVP K30, HPMC 606, b-cyclodextrin và tween 80. Thành phần công thức viên nén nổi chứa hệ phân tán rắn curcumin 100 mg dùng bào chế viên, các thử nghiệm trên in vitro và in vivo. 03 lô viên nén nổi chứa hệ phân tán rắn curcumin 100 mg được nghiên cứu và bào chế để khảo sát độ ổn định thuốc (mỗi lô 2000 viên).
Mô hình ung thư dạ dày trên chuột nhắt trằng
DMBA là hydrocarbon thơm đa vòng có tác dụng gây ung thư và ức chế miễn dịch ở các loài khác nhau, được ứng dụng rộng rãi để gây khối u ở vú, da và các cơ quan khác. DMBA gây điều khiển ngược của các thụ thể aryl hydrocarbon (aryl hydrocarbon receptor-AhR), làm biến đổi các tiền gen sinh ung thư (proto- oncogen) thành gen sinh ung thư (oncogen) dẫn đến hình thành tế bào ung thư nguyên phát. Ngoài ra, enzym CYP1B1 và epoxid hydrolase trong microsom chuyển hóa DMBA tạo ra DMBA-3,4-dihydrodiol-1,2-epoxid (DMBA-DE), chất chuyển hóa này sẽ liên kết với ADN gây đột biến và khởi đầu ung thư[51],[ 63].
Phương pháp nghiên cứu độc tính trên tế bào
Độc tính tế bào là kết quả của những tác động lên cấu trúc và/hoặc hoạt động cần thiết cho sự sống, tăng sinh và/hoặc chức năng của tế bào dẫn đến tác dụng lên chức năng của các cơ quan cụ thể và/hoặc gây tử vong.
Ung thư dạ dày là gì? Chuẩn đoán ung thư dạ dày
Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Hiện có khoảng 200 loại ung thư [4].
Artemisinin (ART) là gì
Artemisinin là một sesquiterpen lacton endoperoxid (Hình 1.8), hoạt chất chính của cây Thanh hao. Thanh hao (còn gọi là Thanh cao hoa vàng) có tên khoa học là Artemisia annua L., thuộc họ Cúc (Asteraceae). Quốc gia có nhiều Thanh hao mọc hoang là Trung Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ, Bắc Mỹ. Trung Quốc cũng là nơi gieo trồng để chiết xuất artemisinin cung cấp cho thị trường nhiều nhất hiện nay. Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra từ năm 1986 – 1990 (Viện Dược liệu), Thanh hao mọc tự nhiên ở một số tỉnh phía Bắc. Ngoài ra, Thanh hao được trồng trọt thành công, sản lượng không những đáp ứng nhu cầu artemisinin trong nước mà còn có thể xuất khẩu.
Tá dược Phosphatidylcholin
Tên khoa học: Phosphatidylcholin. Tính chất: Phosphatidylcholin thuộc nhóm phospholipid, thành phần chính của màng tế bào, có thể được chiết xuất từ lòng đỏ trứng hoặc màng tế bào, chứa 85% acid stearic và 15% acid palmitic.
Tá dược Gelucire 50-13
Tên khoa học: Stearoyl macrogol-32 glycerid, steroyl polyoxylglycerid. Tính chất: Là chất diện hoạt không ion hóa dạng hạt rắn như sáp, điểm chảy ở 50 oC.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 ...