Phương Nam Co LTD
Cung cấp polysorbate (tween) Korea
© 15/8/2022 - Vietnam12h.com Application

Tween polysorbate 80 hóa chất hoạt động bề mặt



Tiêu chí lựa chọn chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... cho tăng cường thu hồi dầu

Từ đặc thù của các mỏ dầu ở Việt Nam (nhiệt độ, áp suất, nồng độ khoáng của nước bơm ép rất cao; thường xuyên xảy ra hiện tượng phân hủy, cắt mạch chất hoạt động bề mặt, hiện tượng kết tủa do muối hay hấp phụ trong đá chứa…), Phương Nam đưa ra các tiêu chí lựa chọn chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... để đảm bảo hiệu quả khi sử dụng:

Các chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... được sử dụng tạo được sức căng bề mặt đủ thấp để thay đổi được tính dính ướt giá thành cho một đơn vị khai thác dầu thô;

Các chất hoạt động bề mặt; tween 80 (polysorbate80)... dùng trong tăng cường thu hồi dầu phải có chỉ số cân bằng dầu nước (HLB - hydrophile lipophile balance) ≥ 8 (có tính thấm ướt, nhũ hóa, tẩy rửa và hòa tan).

Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

Để có hiệu ứng giảm sức căng bề mặt một hỗn hợp hai hay nhiều chất hoạt động bề mặt phải có sự tương tác giữa các chất hoạt động bề mặt. Tương tác này có thể hình thành do lực hút tĩnh điện giữa 2 nhóm dầu ưa nước trái dấu, hoặc lực hấp dẫn Van der Waals giữa các nhóm đuôi kỵ nước, trong đó lực hút tĩnh điện thường tạo ra tương tác mạnh hơn [27]. Mặt khác, sức căng bề mặt sẽ đạt giá trị cực thấp khi hệ số xếp chặt (packing parameter) các phân tử chất hoạt động bề mặt trên bề mặt liên diện hai pha dầu - nước tiến gần tới 1, điều này chỉ đạt được khi có sự ghép không đối xứng các nhóm kỵ nước trong hỗn hợp nhiều chất hoạt động bề mặt khác nhau cho phép tập hợp nhiều phân tử chất hoạt động bề mặt trên bề mặt liên diện hơn là giữa các nhóm kỵ nước của cùng một chất hoạt động bề mặt [30].

Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã nghiên cứu và chọn ra 3 chất hoạt động bề mặt phù hợp là AOS, SDBS và tween 80 (polysorbate80) từ rất nhiều các chất hoạt động bề mặt khác nhau có thể đáp ứng được các tiêu chí phù hợp cho tăng thu hồi dầu để tiến hành thử nghiệm và sau đó pha chế xác định tỷ lệ tối ưu theo phương pháp quy hoạch thực nghiệm:

- Chất hoạt động bề mặt: Alpha olefin sulfonate (AOS), Polyoxyethylene sorbitan monooleate ( tween 80 (polysorbate80) ), Sodium dodecylbenzene sulfonate (SDBS);

S1dd: Độ bão hòa dầu dư sau khi đẩy dầu bằng nước (p.đ.v);

S2dd: Độ bão hòa dầu dư sau khi đẩy dầu bằng chất hoạt động bề mặt (p.đ.v);

K1 , K2 : Độ thấm nước trước và sau khi bơm đẩy chất

- Dung môi và phụ gia: Butanol, Thiourea (phụ gia hoạt động bề mặt (mD); bền nhiệt cho hệ chất hoạt động bề mặt);

Kph : Tổ hợp số phục hồi độ thấm (p.đ.v);

Dầu thô chạy mô hình vỉa: Dầu thô Bạch Hổ giếng.

Để có thể đánh giá được độ bền nhiệt của các chất hoạt động bề mặt phù hợp với điều kiện vỉa cát kết tầng Oligocen mỏ Bạch Hổ, đồng thời đưa ra được kết luận về tổ hợp chất hoạt động bề mặt tối ưu, nhóm tác giả đã tiến hành thử nghiệm với nội dung như sau:

Xác định nồng độ tới hạn tạo micelle: nồng độ tới hạn tạo micelle được xác định bằng phương pháp đo sức căng bề mặt của dung dịch chất hoạt động bề mặt tại các nồng độ khác nhau, qua đó xác định điểm nhảy của sức căng bề mặt và tính toán CMC;

Dựa trên định luật Lambert-Beer, độ hấp phụ các chất hoạt động bề mặt trên bề mặt đá vỉa được xác định bằng máy quang phổ UV;

Xác định sức căng bề mặt của chất hoạt động bề mặt bằng phương pháp giọt quay (Spinning drop) mẫu đo được thực hiện ở nhiệt độ 140oC; Xác định tính dính ướt của bề mặt đá theo phương pháp đo góc tiếp xúc trên hệ thống máy KRUSS G10;

Xác định trạng thái pha của dung dịch chất hoạt động bề mặt và dầu vỉa;

Xác định hệ số đẩy dầu: thực hiện trên mô hình vỉa: η1 = (1 - Snd - S1dd)/(1 - Snd);

η2 = (1 - Snd - S2dd)/(1 - Snd);

Kph = K2/K1;

∆η = η2 - η1; Trong đó:

Snd: Độ bão hòa nước dư;

∆η: Gia tăng hệ số đẩy dầu do bơm nút chất hoạt động bề mặt (p.đ.v).


 
Kiểm nghiệm hệ phân tán rắn curcumin sử dụng tá dược polysorbate 80
Các thông số kiểm nghiệm bán thành phẩm được trình bày cho thấy các công thức có thành phần tá dược polysorbate 80 đều cho cốm có độ trơn chảy tốt, góc nghỉ đều < 30o, độ ẩm < 7%; kết quả có sự lặp lại giữa 03 lô nghiên cứu.
Viên nang chứa pellet lansoprazol điều chỉnh PH bằng triethanolamine tea 99%
Xử lý mẫu huyết tương và định lượng Lansoprazol trong huyết tương bằng phương pháp sau: Thêm vào 500 µl huyết tương 50 µl dung dịch chuẩn nội làm việc PPZ có nồng độ 40 µg/ml (được pha loãng ngay trước khi sử dụng từ dung dịch chuẩn nội gốc có nồng độ khoảng 1 mg/ml bằng MeOH), lắc xoáy trong 30 giây, thêm 2 ml tert- butyl methyl ether, lắc xoáy trong 3 phút, ly tâm ở 200C với tốc độ 4500 vòng/phút trong 10 phút. Hút 1,0 ml lớp dung môi hữu cơ, bốc hơi tới khô trong máy cô quay chân không ở 300C, cắn được hoà tan trong 80 µl ACN, thêm 120 µl dung dịch đệm kali dihydrophosphat 0,01 M (đã được điều chỉnh pH về 8,0 bằng triethanolamine tea 99% sản xuất tại Thái Lan do Phương Nam cung cấp “triethanolamine tea”,
Nước cất pha dung môi polysorbate 80
Nước là một dung môi lý tưởng được dùng để pha phần lớn các thuốc tiêm có chứa tween 80, các dược chất khác nhau trong phòng thí nghiệm. Do nước tương đồng rất cao với các mô của cơ thể, bởi thế các thuốc tiêm thường dùng nước làm dung môi vừa dễ sử dụng lại vừa an toàn hơn so với các loại dung môi khác. Đồng thời, nước có hằng số điện môi và khả năng tạo liên kết hydro cao nên nước có khả năng hoà tan nhiều loại dược chất. Tuy nhiên, nước lại là dung môi gây thuỷ phân nhiều loại dược chất tạo ra các sản phẩm phân huỷ không có tác dụng điều trị, thậm chí độc với cơ thể. Nước dùng để pha thuốc tiêm được ghi trong Dược điển của các nước là nước cất.
Tính chất tween 80, hệ tiểu phân nano Artemisinin với cỡ lô bào chế là 1.000 g
Theo kết quả phân tích, tính chất tiểu phân của lô tối ưu, kiểm chứng và nâng cấp không khác nhau (p > 0,05). Điều đó cho thấy quy trình bào chế có tính lặp lại và ổn định. Cỡ lô bào chế hệ tiểu phân nano Artemisinin đã được nâng lên 1.000 g với tỉ lệ lipid là 10% và tỉ lệ chất diện hoạt, tween 80 là 2%.
Sự phóng thích tween 80, hoạt chất của hệ tiểu phân nano Artemisinin
Trong mô hình túi thẩm tách, hoạt chất, tween 80 được khuếch tán qua màng bán thấm để vào môi trường thử nghiệm. Nghiên cứu đã chứng minh rằng tween polysorbate 80, hoạt chất tan trong lipid nóng chảy thường được chứa trong tiểu phân. Vì vậy, trước khi khuếch tán qua màng, polysorbate 80, hoạt chất cần được phóng thích ra khỏi tiểu phân [42], [143].
Độ tan của hoạt chất, tween 80 và hệ tiểu phân nano Artemisinin
Ngoài kích thước, hiệu suất nang hóa là tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá tiềm năng ứng dụng của hệ tiểu phân nano. Yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hiệu suất nang hóa là độ tan của hoạt chất, tween 80 trong lipid nóng chảy và tính chất của lipid. Hoạt chất và tween 80 cần phải tan tốt trong lipid nóng chảy. Nếu pha dầu là hỗn hợp lipid rắn – lỏng thì mức độ liên kết trong cấu trúc của lipid rắn sẽ lỏng lẻo, tiểu phân có nhiều “không gian” để chứa hoạt chất hơn [122]. Vì vậy, chọn hỗn hợp tween polysorbate 80 và lipid rắn – lỏng (Compritol® 888 ATO – LabrafacTM PG) có khả năng hòa tan Artemisinin
Tween 80 chất đồng tạo nhũ
Chất tạo nhũ không ion là Tween-80 làm hợp phần này. Tween-80 có thành phần axit béo: axit palmitic xấp xỉ 90% so với axit stearic, với một số đặc tính được kê ở bảng dưới đây:
Đánh giá chất lượng tween 80
Phổ hồng ngoại là một phương pháp xác định nhanh và khá chính xác cấu trúc sản phẩm tween 80. Phương pháp này dựa trên nguyên tắc khi chiếu một chùm tia đơn sắc có bước sóng nằm trong vùng hồng ngoại (400 ÷ 4000 cm −1 ) qua chất cần phân tích thì một phần năng lượng của tia sáng bị hấp phụ và giảm cường độ tia tới. Sự hấp phụ này tuân theo định luật Lambert-Beer.
Quá trình tổng hợp chất nhũ hóa, tween 80 từ dầu thực vật
Thực chất đây là quá trình amit hóa dầu thực vật, cũng là quá trình sản xuất tween 80 từ dầu thực vật. Yêu cầu về nguyên liệu + Tác nhân Amit hoá: Monoetanol amin (MEA), có độ tinh khiết cao (trên 99%). + Xúc tác: Kiềm (NaOH, KOH), CH3O-
Thế zêta Artemisinin ổn định nhờ polysorbate 80
Thế zêta phản ánh lực đẩy giữa các tiểu phân cùng dấu trong hệ phân tán. Lực đẩy này ngăn cản sự kết tụ giữa chúng. Đối với hệ tiểu phân ổn định nhờ lực đẩy tĩnh điện, giá trị thế zêta < |30| mV, tối ưu là > |60| mV cho dự đoán hệ tiểu phân có thể ổn định về phương diện vật lý trong thời gian bảo quản. Thế zêta giữa |5| mV và |15| mV, hệ bị kết bông giới hạn; giữa |5| mV và |3| mV hệ kết bông tối đa. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phù hợp đối với hệ tiểu phân ổn định nhờ hiệu ứng không gian vì khi đó các nhóm tạo hiệu ứng sẽ làm giảm thế zêta của hệ [60], [132].
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 ...