Phương Nam Co LTD
© 29/7/2021 - Vietnam12h.com Application

Cân bằng hiđrophin/lipophin tween polysorbate 80

Cân bằng HLB chỉ  ra  định hướng  ứng dụng tween polysorbate 80 nói riêng và các chất hoạt động bề mặt pha chế các dung dịch nhũ tương và vi nhũ tương. Giá trị HLB của chất nhũ hóa biểu thị trực tiếp cân bằng hiđrophin/lipophin là mối quan hệ ái lực của nhóm ưa nước có ái lực với nước và chiều dài mạch kị nước có ái lực với dầu. Trước tiên là phân cực hay không, hiđrocacbon mạch dài là không phân cực. Bảng 3.7 giới thiệu một số chất hoạt động bề mặt và các giá trị HLB tương ứng.

Bảng 3.7 Phân loại tác nhân bề mặt theo giá trị HLB.

Các chất nhũ hóa có giá trị HLB thấp hơn 9 đặc trưng cho một chất nhũ hóa kị nước tiêu biểu, còn chất nhũ hóa có giá trị HLB trong giới hạn 11 và 20 được coi là chất ưa nước tiêu biểu.

Việc sử dụng hệ thống HLB cho một chất nhũ hóa hay hỗn hợp chất nhũ hóa có thể biết nó là một nhũ dầu trong nước hay nước trong dầu.

HLB của một chất nhũ hóa hay hỗn hợp các chất nhũ hóa là chỉ số để đánh giá một chất nhũ hóa khác có cấu tạo gần với một chất nhũ hóa đã biết.

HLB của một chất nhũ hóa liên hệ với độ hòa tan. Một chất nhũ hóa có chỉ số HLB thấp là chất hòa tan trong dầu còn ngược lại nó là chất hòa tan trong nước.

Sự phân loại HLB theo Davies giữa các giá trị giới hạn 1 và 20; coi axit oleic có giá trị HLB là 1 và kali oleat có giá trị 20. Khi trung hòa axit oleic nhận được các hỗn hợp có giá trị trung gian từ 1 đến 20, so sánh với các chất hoạt động bề mặt khác tính giá trị HLB, cuối cùng xác định hàm lượng tween polysorbate 80 trong điều chế chất nhũ hóa của chúng.

Yêu cầu HLB tween polysorbate 80 của chất tạo nhũ.

HLB yêu cầu  của chất nhũ hóa là giá trị HLB cần thiết của chất nhũ hóa  khi thêm nó vào để chế tạo một chất nhũ tương trong điều kiện tiến hành nhất định.

Hai tên gọi HLB và RHLB được coi như là điều kiện chế tạo một nhũ tương của một chất lỏng hữu cơ: HLB của chất nhũ hóa phải liên hệ với RHLB của nó nghĩa là HLB phải phù hợp tốt nhất để cho một nhũ tương bền vững nhất.

Mỗi chất, mỗi loại chất béo thiên nhiên có một giá trị RHLB nhất định. Bảng 3.8 cho giá trị RHLB của một số vật liệu để chế tạo nhũ tương dưới dạng dầu trong nước hay nước trong dầu hay vi nhũ.

Bảng 3.8 Giá trị RHLB của một số chất tạo nhũ.

Trên bảng 3.8 cho thấy một số giá trị RHLB của vật liệu dầu mỡ để chế tạo nhũ tương dưới dạng dầu trong nước hay nước trong dầu hay để hình thành vi nhũ. Đối với nhũ tương nước trong dầu, RHLB thường có giá trị 7 đến 9, thấp hơn nhũ tương dầu trong nước là 10 đến 15.

Bảng 3.9 cho một số giá trị RHLB của một số sản phẩm trước khi được nhũ hóa. Sự hiểu biết chúng cho phép phân biệt một số lớn chất nhũ hóa không thích hợp mà HLB của chúng khác giá trị RHLB của các chất mỡ tạo nhũ.

Nếu thỏa mãn điều  kiện HLB = RHLB sẽ dẫn đến sự khảo sát việc sử dụng các chất nhũ hóa thích hợp trộn lẫn nhau. Kinh nghiệm chỉ ra rằng hai chất nhũ hóa có HLB giống nhau và tương đương với RHLB của chất dầu tạo nhũ không phải luôn luôn cho các nhũ tương có độ bền như nhau.

Vậy là cần phải so sánh các tính chất khác của các chất nhũ hóa như: định hướng chất dầu tạo nhũ, bản chất các tướng có mặt, nồng độ muối, điểm nóng chảy của chất mỡ, pH .v..v.

Bảng 3.9 Giá trị RHLB của một số pha hữu cơ cho sự nhũ hóa nước (dầu trong nước).

Sự bền vững của nhũ tương.

Sự bền vững của hệ nhũ tương dầu hay hiđrocacbon với nước nhờ các chất nhũ hóa được biết từ lâu. Nói chung hỗn hợp đơn giản của một chất nhũ hóa với một chất dầu cho một sự phân tán tốt trong nước và thu được một nhũ tương dạng sữa bền hay kém bền và cuối cùng bị tách ra thành hai, ba pha, khi thêm một chất hoạt động bề mặt vào dễ dàng chuyển nó thành một hệ đồng nhất trong suốt, thường đẳng hướng và bền nhiệt động. Hệ này được gọi là vi nhũ, có thể ví dụ như dầu hay hiđrocacbon (pha hữu cơ), nước và một chất nhũ hóa tween polysorbate 80 (chất hoạt động bề mặt).