Phương Nam Co LTD
Cung cấp Polyethylene glycol - PEG Korea
© 18/9/2021 - Vietnam12h.com Application

Polyethylene glycol



Cấu tạo của Polyethylene glycol

Polyethylene glycol (PEG) là polymer mạch dài có công thức chung là H(OCH2CH2)nOH.

Với n (là mức độ polymer hoá) xác định, PEG sẽ có khối lượng phân tử trung bình và tính chất xác định.

Thông số đặc trưng của Polyethylene glycol

PEG 4000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 90, Khối lượng phân tử (Da); 3700-4400

PEG 6000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 150, Khối lượng phân tử (Da); 5600-6600

PEG 8000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 180, Khối lượng phân tử (Da); 7300-9000

PEG 10.000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 220, Khối lượng phân tử (Da); 9000-11250

PEG 12.000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 240, Khối lượng phân tử (Da); 10500-15000

a Khối lượng phân tử và trạng thái của các polyethylene glycol được cung cấp bởi nhà sản xuất tại Korea

b Số các đơn vị EO được tính toán bằng cách sử dụng khối lượng phân tử

Tính chất của PEG

Polyethylene glycol là một polymer tan được trong nước, thấm nước, không miễn dịch và không độc hại, có độ tương hợp sinh học nên được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực y sinh. Với những tính chất đó, vật liệu được tổng hợp từ PEG là ứng cử viên sáng giá nhất cho vật liệu sinh học. PEG có thể thay đổi tính chất của một phân tử khác khi nó tạo liên kết với phân tử đó. Kết quả của việc này là có thể làm cho phân tử độc hại trở nên không độc hại hoặc không tan trong nước trở nên tan trong nước khi liên kết với nó.

Ứng dụng của PEG

PEG là loại polyether alcohol tan trong nước, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. PEG được sử dụng để tổng hợp tạo các copolymer ứng dụng trong phân phối thuốc, chữa lành vết thương và nhiều ứng dụng y sinh khác.

Ngoài ra PEG còn được ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, gốm sứ, hóa mỹ phẩm, xi mạ điện, keo dán, dầu bôi trơn và các sản phẩm gia dụng khác...

Pluronic

Cấu tạo của Pluronic


Pluronic hay polyethylene-polypropylene glycol copolymer là tên thương mại của poloxamer. Từ "poloxamer" được đặt ra bởi Irving Schmolka, người phát minh ra và đã nhận được bằng sáng chế cho các chất này vào năm 1973. Pluronic còn được biết đến với các tên thương mại khác là Synperonic và Kolliphor [15].

Pluronic có cấu trúc đặc biệt với 2 nhóm ưa nước (EO) ở ngoài còn ở trong là nhóm kỵ nước (PO), nhóm này cũng là thành phần nhạy nhiệt của Pluronic (hình 1.27). Các giá trị x, y được thể hiện trong bảng 1.2.

Các poloxamer thường có tính chất đặc trưng là phản ứng lại với nhiệt độ và được dùng rộng rãi trong các hệ thống gel nhiệt. Trong nước, các poloxamer cho thấy chúng có cấu trúc khá giống micelle. Khi nhiệt độ vượt quá nhiệt độ tới hạn (CMT) hoặc nồng độ tới hạn (CMC) các nhóm PO kỵ nước sẽ kết vào trong, còn các đầu EO ưa nước sẽ hướng ra ngoài (hình 1.28). [92]

Tính chất của Pluronic

Tương tự như Polyethylene glycol, Pluronic cũng là một polymer tan được trong nước, thấm nước, không miễn dịch, không độc hại, có độ tương hợp sinh học cao và được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực y sinh.

Pluronic có tiềm năng lớn trong việc mang các thuốc khó tan trong nước, đặc biệt là thuốc trị ung thư.

Ngoài ra Pluronic có nhóm -OH đầu mạch nên dễ dàng kết hợp với một chất khác để tạo ra hệ chất nano mang thuốc hiệu quả hơn.

Ứng dụng của Pluronic

Trong ngành dược, Pluronic làm chất đẫn truyền và phân phối thuốc. Với cấu trúc vừa ưa nước, vừa ưa dầu (amphiphilic), những poloxamer có tính chất hoạt động bề mặt tốt nên chúng có nhiều ứng dụng trong công nghiệp. Poloxamer có thể làm tăng khả năng hòa tan trong nước của các chất kỵ nước, chất dầu, hoặc tăng khả năng trộn lẫn của hai chất kỵ nước khác nhau. Do đó, các poloxamer thường được sử dụng trong các ứng dụng công nghiệp, mỹ phẩm, dược phẩm. Chúng cũng được đánh giá cao trong việc phân phối thuốc, đặc biệt với các thuốc kháng tế bào ung thư.

Trong vật liệu y sinh, Pluronic được sử dụng trong môi trường nuôi cấy tế bào, làm chất ổn định của màng tế bào, bảo vệ tế bào tránh các tác động của quá trình chia cắt và kết hợp.

Trong khoa học vật liệu, các poloxamer P123 gần đây đã được sử dụng để thay thế các nhóm bề mặt trong quá trình tổng hợp vật liệu mao quản SPA-15 (một loại vật liệu có nhiều lỗ mao quản đường kính từ 2-50 nm).

 
So sánh dược động học trên động vật thí nghiệm của thuốc tiêm chứa PTX
Bartoli và cộng sự (1990) so sánh hiệu quả của PTX trong cả hai công thức hạt nano và liposom với các dung dịch PTX trong DMSO và CrEL cả in vitro và in vivo trong các mô hình bệnh bạch cầu P388 và L1210. Nghiên cứu đã kết luận rằng công thức liposom PTX vượt trội hơn trên in vitro và in vivo, trong khi công thức nano thấy có độc tính chủ yếu là do thành phần các tá dược (tween polysorbate 80) công thức.
Quy trình định lượng PTX trong dịch sinh học
Guo Wei, Jenifer L. Johnson và cộng sự (2005) định lượng PTX trong huyết tương và mô chuột sau khi tiêm dạng bào chế liposom của PTX. Dịch đồng nhất hoá được thêm vào dung môi chiết acetonitril chứa 0,1% acid acetic, chất diên hóa tween 80. Thêm nội chuẩn doxetaxel vortex, ly tâm, phần dịch được lấy để tiến hành sắc ký. Điều kiện sắc ký là Cột ODS3, pha động methanol - nước - tetrahydrofuran (70 : 27,5 : 2,5), tốc độ dòng 1 mL/phút và phát hiện ở bước sóng 230 nm [26].
Định lượng curcumin bằng phương pháp quang phổ UV-Vis
Xây dựng và thẩm định quy trình định lượng curcumin trong hệ phân tán rắn (môi trường chứa 0,02% Tween 80) bằng phương pháp quang phổ UV-Vis và trong viên nén nổi bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Tween polysorbate 80 và tá dược bào chế hệ phân tán rắn của curcumin
Hệ phân tán rắn của curcumin với PEG, PVP K30, HPMC 606, b-cyclodextrin và tween 80. Thành phần công thức viên nén nổi chứa hệ phân tán rắn curcumin 100 mg dùng bào chế viên, các thử nghiệm trên in vitro và in vivo. 03 lô viên nén nổi chứa hệ phân tán rắn curcumin 100 mg được nghiên cứu và bào chế để khảo sát độ ổn định thuốc (mỗi lô 2000 viên).
Mô hình ung thư dạ dày trên chuột nhắt trằng
DMBA là hydrocarbon thơm đa vòng có tác dụng gây ung thư và ức chế miễn dịch ở các loài khác nhau, được ứng dụng rộng rãi để gây khối u ở vú, da và các cơ quan khác. DMBA gây điều khiển ngược của các thụ thể aryl hydrocarbon (aryl hydrocarbon receptor-AhR), làm biến đổi các tiền gen sinh ung thư (proto- oncogen) thành gen sinh ung thư (oncogen) dẫn đến hình thành tế bào ung thư nguyên phát. Ngoài ra, enzym CYP1B1 và epoxid hydrolase trong microsom chuyển hóa DMBA tạo ra DMBA-3,4-dihydrodiol-1,2-epoxid (DMBA-DE), chất chuyển hóa này sẽ liên kết với ADN gây đột biến và khởi đầu ung thư[51],[ 63].
Phương pháp nghiên cứu độc tính trên tế bào
Độc tính tế bào là kết quả của những tác động lên cấu trúc và/hoặc hoạt động cần thiết cho sự sống, tăng sinh và/hoặc chức năng của tế bào dẫn đến tác dụng lên chức năng của các cơ quan cụ thể và/hoặc gây tử vong.
Ung thư dạ dày là gì? Chuẩn đoán ung thư dạ dày
Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Hiện có khoảng 200 loại ung thư [4].
Artemisinin (ART) là gì
Artemisinin là một sesquiterpen lacton endoperoxid (Hình 1.8), hoạt chất chính của cây Thanh hao. Thanh hao (còn gọi là Thanh cao hoa vàng) có tên khoa học là Artemisia annua L., thuộc họ Cúc (Asteraceae). Quốc gia có nhiều Thanh hao mọc hoang là Trung Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ, Bắc Mỹ. Trung Quốc cũng là nơi gieo trồng để chiết xuất artemisinin cung cấp cho thị trường nhiều nhất hiện nay. Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra từ năm 1986 – 1990 (Viện Dược liệu), Thanh hao mọc tự nhiên ở một số tỉnh phía Bắc. Ngoài ra, Thanh hao được trồng trọt thành công, sản lượng không những đáp ứng nhu cầu artemisinin trong nước mà còn có thể xuất khẩu.
Tá dược Phosphatidylcholin
Tên khoa học: Phosphatidylcholin. Tính chất: Phosphatidylcholin thuộc nhóm phospholipid, thành phần chính của màng tế bào, có thể được chiết xuất từ lòng đỏ trứng hoặc màng tế bào, chứa 85% acid stearic và 15% acid palmitic.
Tá dược Gelucire 50-13
Tên khoa học: Stearoyl macrogol-32 glycerid, steroyl polyoxylglycerid. Tính chất: Là chất diện hoạt không ion hóa dạng hạt rắn như sáp, điểm chảy ở 50 oC.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 ...

Esterfucation : other
Esterfication peg