Phương Nam Co LTD
Cung cấp Polyethylene glycol - PEG Korea
© 15/8/2022 - Vietnam12h.com Application

Polyethylene glycol



Cấu tạo của Polyethylene glycol

Polyethylene glycol (PEG) là polymer mạch dài có công thức chung là H(OCH2CH2)nOH.

Với n (là mức độ polymer hoá) xác định, PEG sẽ có khối lượng phân tử trung bình và tính chất xác định.

Thông số đặc trưng của Polyethylene glycol

PEG 4000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 90, Khối lượng phân tử (Da); 3700-4400

PEG 6000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 150, Khối lượng phân tử (Da); 5600-6600

PEG 8000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 180, Khối lượng phân tử (Da); 7300-9000

PEG 10.000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 220, Khối lượng phân tử (Da); 9000-11250

PEG 12.000; Trạng thái; Rắn, Số nhóm EO (x)b; 240, Khối lượng phân tử (Da); 10500-15000

a Khối lượng phân tử và trạng thái của các polyethylene glycol được cung cấp bởi nhà sản xuất tại Korea

b Số các đơn vị EO được tính toán bằng cách sử dụng khối lượng phân tử

Tính chất của PEG

Polyethylene glycol là một polymer tan được trong nước, thấm nước, không miễn dịch và không độc hại, có độ tương hợp sinh học nên được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực y sinh. Với những tính chất đó, vật liệu được tổng hợp từ PEG là ứng cử viên sáng giá nhất cho vật liệu sinh học. PEG có thể thay đổi tính chất của một phân tử khác khi nó tạo liên kết với phân tử đó. Kết quả của việc này là có thể làm cho phân tử độc hại trở nên không độc hại hoặc không tan trong nước trở nên tan trong nước khi liên kết với nó.

Ứng dụng của PEG

PEG là loại polyether alcohol tan trong nước, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. PEG được sử dụng để tổng hợp tạo các copolymer ứng dụng trong phân phối thuốc, chữa lành vết thương và nhiều ứng dụng y sinh khác.

Ngoài ra PEG còn được ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, gốm sứ, hóa mỹ phẩm, xi mạ điện, keo dán, dầu bôi trơn và các sản phẩm gia dụng khác...

Pluronic

Cấu tạo của Pluronic


Pluronic hay polyethylene-polypropylene glycol copolymer là tên thương mại của poloxamer. Từ "poloxamer" được đặt ra bởi Irving Schmolka, người phát minh ra và đã nhận được bằng sáng chế cho các chất này vào năm 1973. Pluronic còn được biết đến với các tên thương mại khác là Synperonic và Kolliphor [15].

Pluronic có cấu trúc đặc biệt với 2 nhóm ưa nước (EO) ở ngoài còn ở trong là nhóm kỵ nước (PO), nhóm này cũng là thành phần nhạy nhiệt của Pluronic (hình 1.27). Các giá trị x, y được thể hiện trong bảng 1.2.

Các poloxamer thường có tính chất đặc trưng là phản ứng lại với nhiệt độ và được dùng rộng rãi trong các hệ thống gel nhiệt. Trong nước, các poloxamer cho thấy chúng có cấu trúc khá giống micelle. Khi nhiệt độ vượt quá nhiệt độ tới hạn (CMT) hoặc nồng độ tới hạn (CMC) các nhóm PO kỵ nước sẽ kết vào trong, còn các đầu EO ưa nước sẽ hướng ra ngoài (hình 1.28). [92]

Tính chất của Pluronic

Tương tự như Polyethylene glycol, Pluronic cũng là một polymer tan được trong nước, thấm nước, không miễn dịch, không độc hại, có độ tương hợp sinh học cao và được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực y sinh.

Pluronic có tiềm năng lớn trong việc mang các thuốc khó tan trong nước, đặc biệt là thuốc trị ung thư.

Ngoài ra Pluronic có nhóm -OH đầu mạch nên dễ dàng kết hợp với một chất khác để tạo ra hệ chất nano mang thuốc hiệu quả hơn.

Ứng dụng của Pluronic

Trong ngành dược, Pluronic làm chất đẫn truyền và phân phối thuốc. Với cấu trúc vừa ưa nước, vừa ưa dầu (amphiphilic), những poloxamer có tính chất hoạt động bề mặt tốt nên chúng có nhiều ứng dụng trong công nghiệp. Poloxamer có thể làm tăng khả năng hòa tan trong nước của các chất kỵ nước, chất dầu, hoặc tăng khả năng trộn lẫn của hai chất kỵ nước khác nhau. Do đó, các poloxamer thường được sử dụng trong các ứng dụng công nghiệp, mỹ phẩm, dược phẩm. Chúng cũng được đánh giá cao trong việc phân phối thuốc, đặc biệt với các thuốc kháng tế bào ung thư.

Trong vật liệu y sinh, Pluronic được sử dụng trong môi trường nuôi cấy tế bào, làm chất ổn định của màng tế bào, bảo vệ tế bào tránh các tác động của quá trình chia cắt và kết hợp.

Trong khoa học vật liệu, các poloxamer P123 gần đây đã được sử dụng để thay thế các nhóm bề mặt trong quá trình tổng hợp vật liệu mao quản SPA-15 (một loại vật liệu có nhiều lỗ mao quản đường kính từ 2-50 nm).

 
Kiểm nghiệm hệ phân tán rắn curcumin sử dụng tá dược polysorbate 80
Các thông số kiểm nghiệm bán thành phẩm được trình bày cho thấy các công thức có thành phần tá dược polysorbate 80 đều cho cốm có độ trơn chảy tốt, góc nghỉ đều < 30o, độ ẩm < 7%; kết quả có sự lặp lại giữa 03 lô nghiên cứu.
Viên nang chứa pellet lansoprazol điều chỉnh PH bằng triethanolamine tea 99%
Xử lý mẫu huyết tương và định lượng Lansoprazol trong huyết tương bằng phương pháp sau: Thêm vào 500 µl huyết tương 50 µl dung dịch chuẩn nội làm việc PPZ có nồng độ 40 µg/ml (được pha loãng ngay trước khi sử dụng từ dung dịch chuẩn nội gốc có nồng độ khoảng 1 mg/ml bằng MeOH), lắc xoáy trong 30 giây, thêm 2 ml tert- butyl methyl ether, lắc xoáy trong 3 phút, ly tâm ở 200C với tốc độ 4500 vòng/phút trong 10 phút. Hút 1,0 ml lớp dung môi hữu cơ, bốc hơi tới khô trong máy cô quay chân không ở 300C, cắn được hoà tan trong 80 µl ACN, thêm 120 µl dung dịch đệm kali dihydrophosphat 0,01 M (đã được điều chỉnh pH về 8,0 bằng triethanolamine tea 99% sản xuất tại Thái Lan do Phương Nam cung cấp “triethanolamine tea”,
Nước cất pha dung môi polysorbate 80
Nước là một dung môi lý tưởng được dùng để pha phần lớn các thuốc tiêm có chứa tween 80, các dược chất khác nhau trong phòng thí nghiệm. Do nước tương đồng rất cao với các mô của cơ thể, bởi thế các thuốc tiêm thường dùng nước làm dung môi vừa dễ sử dụng lại vừa an toàn hơn so với các loại dung môi khác. Đồng thời, nước có hằng số điện môi và khả năng tạo liên kết hydro cao nên nước có khả năng hoà tan nhiều loại dược chất. Tuy nhiên, nước lại là dung môi gây thuỷ phân nhiều loại dược chất tạo ra các sản phẩm phân huỷ không có tác dụng điều trị, thậm chí độc với cơ thể. Nước dùng để pha thuốc tiêm được ghi trong Dược điển của các nước là nước cất.
Tính chất tween 80, hệ tiểu phân nano Artemisinin với cỡ lô bào chế là 1.000 g
Theo kết quả phân tích, tính chất tiểu phân của lô tối ưu, kiểm chứng và nâng cấp không khác nhau (p > 0,05). Điều đó cho thấy quy trình bào chế có tính lặp lại và ổn định. Cỡ lô bào chế hệ tiểu phân nano Artemisinin đã được nâng lên 1.000 g với tỉ lệ lipid là 10% và tỉ lệ chất diện hoạt, tween 80 là 2%.
Sự phóng thích tween 80, hoạt chất của hệ tiểu phân nano Artemisinin
Trong mô hình túi thẩm tách, hoạt chất, tween 80 được khuếch tán qua màng bán thấm để vào môi trường thử nghiệm. Nghiên cứu đã chứng minh rằng tween polysorbate 80, hoạt chất tan trong lipid nóng chảy thường được chứa trong tiểu phân. Vì vậy, trước khi khuếch tán qua màng, polysorbate 80, hoạt chất cần được phóng thích ra khỏi tiểu phân [42], [143].
Độ tan của hoạt chất, tween 80 và hệ tiểu phân nano Artemisinin
Ngoài kích thước, hiệu suất nang hóa là tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá tiềm năng ứng dụng của hệ tiểu phân nano. Yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hiệu suất nang hóa là độ tan của hoạt chất, tween 80 trong lipid nóng chảy và tính chất của lipid. Hoạt chất và tween 80 cần phải tan tốt trong lipid nóng chảy. Nếu pha dầu là hỗn hợp lipid rắn – lỏng thì mức độ liên kết trong cấu trúc của lipid rắn sẽ lỏng lẻo, tiểu phân có nhiều “không gian” để chứa hoạt chất hơn [122]. Vì vậy, chọn hỗn hợp tween polysorbate 80 và lipid rắn – lỏng (Compritol® 888 ATO – LabrafacTM PG) có khả năng hòa tan Artemisinin
Tween 80 chất đồng tạo nhũ
Chất tạo nhũ không ion là Tween-80 làm hợp phần này. Tween-80 có thành phần axit béo: axit palmitic xấp xỉ 90% so với axit stearic, với một số đặc tính được kê ở bảng dưới đây:
Đánh giá chất lượng tween 80
Phổ hồng ngoại là một phương pháp xác định nhanh và khá chính xác cấu trúc sản phẩm tween 80. Phương pháp này dựa trên nguyên tắc khi chiếu một chùm tia đơn sắc có bước sóng nằm trong vùng hồng ngoại (400 ÷ 4000 cm −1 ) qua chất cần phân tích thì một phần năng lượng của tia sáng bị hấp phụ và giảm cường độ tia tới. Sự hấp phụ này tuân theo định luật Lambert-Beer.
Quá trình tổng hợp chất nhũ hóa, tween 80 từ dầu thực vật
Thực chất đây là quá trình amit hóa dầu thực vật, cũng là quá trình sản xuất tween 80 từ dầu thực vật. Yêu cầu về nguyên liệu + Tác nhân Amit hoá: Monoetanol amin (MEA), có độ tinh khiết cao (trên 99%). + Xúc tác: Kiềm (NaOH, KOH), CH3O-
Thế zêta Artemisinin ổn định nhờ polysorbate 80
Thế zêta phản ánh lực đẩy giữa các tiểu phân cùng dấu trong hệ phân tán. Lực đẩy này ngăn cản sự kết tụ giữa chúng. Đối với hệ tiểu phân ổn định nhờ lực đẩy tĩnh điện, giá trị thế zêta < |30| mV, tối ưu là > |60| mV cho dự đoán hệ tiểu phân có thể ổn định về phương diện vật lý trong thời gian bảo quản. Thế zêta giữa |5| mV và |15| mV, hệ bị kết bông giới hạn; giữa |5| mV và |3| mV hệ kết bông tối đa. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phù hợp đối với hệ tiểu phân ổn định nhờ hiệu ứng không gian vì khi đó các nhóm tạo hiệu ứng sẽ làm giảm thế zêta của hệ [60], [132].
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 ...

Esterfucation : other
Esterfication peg