Phương Nam Co LTD
Cung cấp hạt màu, chất hoạt động bề mặt, dầu bôi trơn Korea
© 27/4/2017 - Vietnam12h.com Application
Khả năng huy động vốn doanh nghiệp tư nhân

Khả năng huy động vốn: Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

Như vậy, có thể nói, các kênh huy động vốn rộng rãi trong công chúng đã được ngăn lại, không cho Doanh nghiệp tư nhân sử dụng. Khả năng huy động vốn của Doanh nghiệp tư nhân vì thế rất hạn hẹp. Tài sản trong Doanh nghiệp tư nhân là một bộ phận trong khối tài sản của chủ doanh nghiệp. Các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp tư nhân cũng chính là nợ của chủ doanh nghiệp. Do đó, khi hoạt động kinh doanh phát sinh nhu cầu tăng vốn, chỉ có phương thức duy nhất là chủ doanh nghiệp đầu tư thêm. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể lấy những tài sản khác của mình để đầu tư, hoặc nhân danh cá nhân mình huy động vốn cho doanh nghiệp. Bản chất lệ thuộc của Doanh nghiệp tư nhân đối với chủ doanh nghiệp triệt tiêu khả năng tự huy động vốn của nó. Vì vậy, Luật Doanh nghiệp 2005 qui định Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp

Quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp. Trong Doanh nghiệp tư nhân, tư cách của doanh nghiệp gắn chặt với tư cách của chủ doanh nghiệp. Hay nói cách khác, Doanh nghiệp tư nhân chính là hình thức tồn tại của một cá nhân kinh doanh dưới hình thức một doanh nghiệp. Vì thế chủ doanh nghiệp có toàn quyền định đoạt đối với doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý. Những quyền cơ bản của chủ sở hữu mà ở loại hình doanh nghiệp nào pháp luật cũng trao cho tương tự nhau thì với chủ Doanh nghiệp tư nhân những quyền này mang tính tuyệt đối hơn và không phải chia sẻ với ai. Cụ thể là:

Quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp: (Điều 143  Luật Doanh nghiệp 2005)

Chủ Doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Chủ Doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trong trường hợp không tự mình đảm đương được tất cả công việc quản lý, chủ doanh nghiệp có thể thuê giám đốc điều hành và thậm chí cả ban giám đốc điều hành. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, chủ Doanh nghiệp tư nhân vẫn là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Giám đốc được thuê chỉ là người đại diện theo ủy quyền của chủ doanh nghiệp. Vì vậy khi có thuê giám đốc, chủ doanh nghiệp phải báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Quyền và nghĩa vụ đối với tài chính doanh nghiệp: (Điều 142 và Khoản 1 Điều 143 Luật Doanh nghiệp 2005)

Trong Doanh nghiệp tư nhân, vấn đề tách bạch tài sản không được đặt ra. Vì vậy tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp. Nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp đầu tư và tự đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh.

Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ đăng ký chính xác số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các loại tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.

Toàn bộ vốn và tài sản trong doanh nghiệp, kể cả vốn vay và tài sản thuê do chủ doanh nghiệp tự quyết định việc sử dụng vào hoạt động kinh doanh nhưng phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Qui định này tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ sở hữu đồng thời bảo đảm cơ chế giám sát của nhà nước và xã hội được thực hiện thông qua kiểm soát hoạt động tài chính trong doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp có quyền chủ động trong kê khai vốn đầu tư và có quyền chủ động sử dụng vốn đầu tư một cách linh hoạt theo yêu cầu kinh doanh và nhu cầu của bản thân. Tuy nhiên việc tăng giảm vốn đầu tư thể hiện qui mô kinh doanh và trong một chừng mực nhất định thể hiện sự thay đổi khả năng bảo đảm nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp với các chủ thể có liên quan, nên pháp luật qui định rõ việc tăng giảm vốn đầu tư phải được ghi chép đầy đủ trong sổ sách kế toán và nếu giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn số vốn đã đăng ký thì chỉ được giảm sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh.

Vì là chủ đầu tư duy nhất cho nên chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân là người duy nhất được hưởng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh  của  doanh  nghiệp.  Theo  Luật  Doanh  nghiệp  2005,  chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật