Phương Nam Co LTD
© 15/8/2022 - Vietnam12h.com Application

Nước cất pha dung môi polysorbate 80


Nước là một dung môi lý tưởng được dùng để pha phần lớn các thuốc tiêm có chứa tween 80, các dược chất khác nhau trong phòng thí nghiệm. Do nước tương đồng rất cao với các mô của cơ thể, bởi thế các thuốc tiêm thường dùng nước làm dung môi vừa dễ sử dụng lại vừa an toàn hơn so với các loại dung môi khác. Đồng thời, nước có hằng số điện môi và khả năng tạo liên kết hydro cao nên nước có khả năng hoà tan nhiều loại dược chất. Tuy nhiên, nước lại là dung môi gây thuỷ phân nhiều loại dược chất tạo ra các sản phẩm phân huỷ không có tác dụng điều trị, thậm chí độc với cơ thể. Nước dùng để pha thuốc tiêm được ghi trong Dược điển của các nước là nước cất.

Theo dược điển Việt Nam nước cất để pha thuốc tiêm là nước tinh khiết, vô khuẩn và không có chất gây sốt. Nước cất pha tiêm phải đạt các yêu cầu như ghi trong chuyện luận “ Nước cất để pha thuốc tiêm” ( Dược điển Việt Nam II, tập 3 ).

Dược điển Mỹ 24 cho phép dùng cả nước cất và nước thẩm thấu ngược làm cho dung môi để pha thuốc tiêm nhưng không được thêm chất sát khuẩn hay chất bảo quản.

Để đánh giá độ tinh khiết hoá học của nước cất có thể dựa trên điện trở cảu mẫu nước cất đó. Nước cất tốt không dẫn điện.

Để xác định giới hạn acid- kiềm của nước có thể dùng máy đo pH nhưng khi đo phải thêm dung dịch KCl bão hoà tỷ lệ 0,3ml/ 100ml nước cất để tăng độ dẫn điện.

Để kiểm tra chất gây sốt trong nước cất, dùng phương pháp thử trên thỏ và tiêm với liều 10ml nước cất/1kgP ( mẫu nước cất trước khi đem thử phải được đẳng trương bằng NaCl mới nung).

Để đảm bảo nước cất không có chất gây sốt tốt nhất nên dùng nước mới cất hoặc là dùng nước cất được bảo quản liên tục ở nhiệt độ 80o C hoặc 5oC, chứa trong các bình thuỷ tinh hay thép không gỉ và phải đậy kín để tránh ô nhiễm từ môi trường bên ngoài.

Nước cất thường có chứa một lượng nhất định khí CO2 hoà tan. Khí CO2 này có thể gây kết tủa một số dược chất trong đó có tween 80. Ví dụ các barbiturat, các sulphonamid là các acid yếu rất ít tan trong nước, nên thường được dùng ở dạng muối Natri có khả năng hoà tan tốt trong nước, nhưng khi hoà tan các muối này trong nước cất có khí CO2 hoà tan sẽ có hiện tượng kết tủa xảy ra trong dung dịch do dạng muối bị chuyển thành dạng acid tự do rất ít tan. Trong những trường hợp này, nước cất để pha thuốc tiêm không có CO2 hoà tan. Có thể loại khí CO2 hoà tan trong nước cất pha tiêm bằng cách đun sôi nước trong 10 phút ngay trước khi pha hoặc đun sục khí N2.

Để pha thuốc tiêm có dược chất dễ bị oxy hóa ( clopheniramin, clopromazin, adrenalin, apomorphin, acid ascorbic, tween 80….) nên dùng nước cất pha tiêm không có O2 hoà tan.


kythuat